Friday, September 9, 2011

Binh luan: Y nghia ton giao va xa hoi nhan ban cua Le Vu Lan bao hieu

Bình luận:
Ý NGHĨA TÔN GIÁO VÀ Xà HỘI NHÂN BẢN CỦA LỄ VU LAN BÁO HIẾU

Thiện Ý
       
         Theo lịch sinh hoạt Phật sự, Mùa Lễ Vu Lan  hàng năm là vào trung tuần Tháng 7 Âm lịch hay khoảng thượng tuần Tháng 8 Dương lịch. Trong tháng này, các Chùa Chiền Việt Nam ở Houston nói riêng, tại hải ngoại nói chung thường long trọng tổ chức Lễ Vu Lan vào các ngày thích hợp, thường là những ngày cuối tuần, để các Phật tử, thiện nam tín nữ có điều kiện thuận lợi đến tham dự các nghi thức cầu siêu và tưởng nhớ công ơn Cha Mẹ đã khuất. Có lẽ vì vậy mà về mặt ngôn ngữ, đã thêm vào các từ “báo hiếu” sau “Lễ Vu Lan” thành cụm từ chúng ta quen gọi là “Lễ Vu Lan Báo Hiếu” để nói lên cả hai ý nghĩa tôn giáo và ý nghĩa xã hội nhân bản?
           Về ý nghĩa tôn giáo, Lễ Vu Lan là dịp cho con cháu cầu nguyên theo niềm tin tôn giáo cho cha mẹ ông bà đã khuất được siêu sinh tịnh độ nơi cõi Niết Bàn cực lạc. Đồng thời, cũng là dịp hàng năm con cháu qua các nghi thức tôn giáo, tưởng nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ, Ông Bà cho ta khôn lớn thành người. Đây chính là ý nghĩa xã hội nhân bản, khác với xã hội loài vật sống theo bản năng thú tính. Từ đó,  ý nghĩa tôn  giáo của Lể Vu Lan còn cho thấy sự khác biệt căn bản giữa con người hữu thần và vô thần trong tương quan giữa đời sống và sự chết, và ý nghĩa xã hội nhân bản cho thấy sự khác biệt giữa con người và cầm thú trong tương quan giữa Cha Mẹ và con cái.
      Thật vậy, theo ý nghĩa tôn giáo hữu thần, có mối tương quan mật thiết giữ đời sống con người trên trần thế với một đời sống khác tồn tại cách nào đó sau cái chết. Sự tồn tại cách nào đó sau cái chết thì tùy thuộc vào tính thiện ác, tốt xấu của các hành vi con người thể hiện trong suốt cuộc đời được kết tụ cho đến lúc chết.
      Theo thuyết nhân quả của Nhà Phật, nhân nào thì ra quả ấy. Người tu thân tích đức trong suốt cuộc đời để thành chánh quả, như điều kiện cần và đủ để được vào cõi Niết Bản cực lạc. Trái lại một kẻ suốt đời làm nhiều điều gian ác thì phải nhận lãnh hậu quả sau cái chết tiếp tục bị đầy ải trong kiếp luân hồi trầm luân, tùy theo mức độ tội trạng mà hoá kiếp.
        Một trong những tín điều trọng yếu của Thiên Chúa Giáo cũng xác tín có một cuộc sống vĩnh cửu sau cái chết là đời sống cực lạc nơi Thiên Đường và cực khổ nơi hoả ngục cho mỗi con người, hoàn toàn tùy thuộc vào công phúc hay tội lỗi được tính sổ vào lúc con người nhắm mắt lìa đời.
       Chính nhờ sự xác tín chung của tôn giáo hữu thần, con người qua nhiều thời đại đã luôn cố gắng hành động hướng thiện, làm lành tránh dữ, để có đời sống tốt đẹp sau cái chết và vẫn giữ được mối liên hệ giữa người sống và người chết, thể hiện qua các nghi lễ theo niềm tin tôn giáo, như các lễ nghi trong Mùa Vu Lan báo hiếu của Phât giáo hay Tháng Các linh hồn của Thiên Chúa Giáo vào Tháng 11 Dương lịch hàng năm.
      Trong khi đó, những kẻ vô thần tiểu biểu của thời đại ngày nay là những người cộng sản, dùng  duy vật sử quan và duy vật biện chứng làm cơ sở lý luận, đã phủ nhận hoàn toàn các tín điều của tôn giáo về một cuốc sống đời sau.Theo họ, chết là hết, không có gì tồn tại sau cái chết. Chính vì vậy mà những người cộng sản vô thần đã qui tụ thành các tập đoàn Cộng đảng tại một số nước sẵn sàng thực hiện mọi hành vi tàn ác, mọi thủ đoạn gian manh và mọi biện pháp giã man phi nhân để làm cái gọi là “cuộc cách mạng vô sản”, để xây dựng một xã hội không tưởng “vô giai cấp, không người bóc lột người”, tiến tới một xã hội viên mãn, một “Thiên đường cộng sản” ngay trên trần thế này.
     Nhưng may mắn thay, thực tế đã không chiều theo ý chí chủ quan của những tập đoàn vô thần Cộng sản, trong đó có Cộng đảng Việt Nam. Chẳng cần nói thì mọi người cũng đã biết cả hệ thống vô thần cộng sản quốc tế, trong đó đứng đầu là cộng sản Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu, đã sụp đổ tan tành như thế nào. Tiếc rằng, vì hệ thống cộng sản vô thần này tồn tại khá lâu, đến trên 70 năm (1917-1990), nên đã gây nhiều tội ác và đau khố cho nhiều dân tộc, tàn phá toàn diện và để lại nhiều hậu quả nghiệm trọng, lâu dài trên nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
         Tiếc rằng, điều không may đối với đất nước, đã làm quốc dân Việt Nam phẫn nộ, là cho đến giờ này, tập đoàn thống trị cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố tiếp tục bám lấy  cái vỏ chủ nghĩa Cộng sản vô thần, chống lại tôn giáo, tín ngưỡng. Mặc dầu chính tập đoàn thống trị này trong thâm tâm cũng biết và không còn tin vào sự hiện thực chủ nghĩa cộng sản, song thực tế vẫn cố bám lấy những phương cách cai trị, kỹ thuật trấn áp nhân dân để bảo vệ quyền thống trị độc tôn, độc quyền trong một chế độ độc tài toàn trị, vì những ưu quyền đặc lợi của một giai cấp thống trị mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản.
         Tựu chung, ý nghĩa tôn  giáo của Lể Vu Lan cho thấy sự khác biệt căn bản giữa con người hữu thần và vô thần trong tương quan giữa  người sống và người chết, và ý nghĩa xã hội nhân bản cho thấy sự khác biệt giữa con người và cầm thú trong tương quan giữa Cha Mẹ và con cái.
        Trong những  ý nghĩa  ấy, Lễ Vu Lan là dịp cho con cháu đến Chùa cầu nguyên cho cha mẹ ông bà đã khuất được siêu sinh tịnh độ nơi cõi Niết Bàn cực lạc là điều phải lẽ.Đồng thời, cũng là dịp hàng năm con cháu qua các nghi thức tôn giáo, tưởng nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ, Ông Bà, cũng là để thực hành Đạo Hiếu của con người nói chung, không chỉ khi Cha Mẹ, Ông Bà còn sống, mà cả sau khi các Ngài đã qua đời. Đúng như lời thuyết pháp của một vị Thượng Toạ khả kính  trong Lễ Vu Lan tổ chức mới đây tại một ngôi Chùa ở Houston, đại ý rằng: sẽ không là một phật tử thuần thành, một người chồng, người vợ, người con tốt và người công dân tốt, nếu như người ấy không giữ được Đạo Hiếu với Cha Mẹ, Ông Bà, Tổ Tiên, những người đã khuất.

Thiện Ý
Houston, ngày 15 tháng 8 năm 2011

Bình luận:Y an so tham doi voi luat su Cu Huy Ha Vu, Viet cong tiep tuc chong lai nhan dan, thach thu ccong luan quoc te.

Bình luận:
Y ÁN SƠ THẨM ĐỐI VỚI LUẬT SƯ CÙ HUY HÀ VŨ, VIỆT CỘNG TIẾP TỤC CHỐNG LẠI NHÂN DÂN, THÁCH THỨC CÔNG LUẬN QUỐC TẾ.

Thiện Ý
         Thứ Ba ngày 2 -8-2011 tuần qua, phiên xử phúc thẩm của Toà Án Nhân Tối Cao Việt cộng đã y án sơ thẩm 7 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với Luật sư Cù Huy Hà vũ, một trong những nhà đấu tranh ôn hoà cho dân chủ tại Việt Nam. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị bắt hồi tháng 11 năm ngoái và đã ra tòa lần đầu vào đầu tháng Tư năm nay.Ông Vũ được dư luận biết tới nhiều sau khi ông khởi kiện Thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hai lần về các dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên, cũng như nhiều bài viết, trả lời phỏng vấn của các cơ quan truyền thông quốc tê được phổ biến rộng rãi trên mạng internet toàn cầu, phê phán những bất hoàn trong guồng máy cai trị độc tài đảng trị hiện nay và như ông nói trước phiên toà phúc thẩm của Việt cộng ngày 2-8 vừa qua “tôi chỉ yêu cầu xây dựng một hệ thống đa đảng cho phép cạnh tranh lành mạnh vì lợi ích cuối cùng của nhân dân và đất nước”.
         Như vậy là tiếp theo sau các hành động đàn áp thô bạo, bắt bớ giam cầm những người dân yêu nước biều tình ôn hoà chống Tầu cộng xâm lược, và bắt giam trở lại Linh mục Nguyễn Văn Lý, cũng là một trong các nhà đấu tranh kiên trì, không khoan nhượng  cho các quyền tự do dân chủ, dân sinh và nhân quyền tại Việt Nam, giữa lúc những căn bệnh hiểm nghèo vẫn còn là mối đe dọ tính mạng của Ngài… Nay Toà án Việt cộng lại xử y án luật sư Cù Huy Hà Vũ, bất chấp đòi hỏi của nhân dân được thể hiện qua việc hàng ngàn người tụ tập trước Toà Án Hà Nội, nơi xử phúc thẩm, đòi hủy án sơ thẩm, một bản án bất công, vi luật, vì đã kết án một công dân đã chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận theo đúng qui định của luật pháp hiện hành, với động lực là lòng yêu nước và thiện chí muốn xây dựng một chế độ dân chủ cho dân, vì lợi ích của Đất nước. Tất cả những hành động này cho thấy  nhà cầm quyền Việt cộng hiện nay đã chọn con đường chống lại nhân dân và thách thức cộng luận quốc tế. Vì sao Việt cộng giám chọn con đường này?
       Câu trả lời có thể tìm thấy ngay trong thực tế: là vì từ quá khứ đến hiện tại,Việt cộng đã giành chính quyền, cai trị nhân dân hoàn toàn dựa vào thế ngoại bang. Trong chiến tranh xâm chiếm Miền Nam, Việt cộng đã dựa vào Nga-Tầu, lợi dụng lòng yêu nước, xương máu của nhân dân, tự nguyện làm công cụ cho cộng sản quốc tế, tiến hành chiến tranh xâm chiếm Miền Nam, nhuộm đỏ toàn cõi đất nước. Sau khi nắm được chính quyền trên cả nước, Việt cộng tiếp tục dựa vào Nga Xô lúc đầu, bị Tầu cộng nổi giận “dậy cho Việt Nam một bài học”; rồi Nga Xô sụp đổ, đi theo con đường dân chủ đa nguyên, Việt cộng đã tìm cách bám trở lại chỗ dựa Tầu cộng để thống trị nhân dân cho đến hôm nay. Trong tình thế ngày càng bị Tầu cộng lấn áp, bắt bí đủ điều do những cam kết bí mật cũng như công khai trong thời chiến liên quan đến lãnh thổ lãnh hải giữa hai nước, Việt cộng đã tìm thêm chỗ dựa vào Hoa Kỳ như thế đối trọng làm giảm áp lực từ Tầu cộng, thực hiện chính sách đi dây, song vẫn bị Tầu cộng cột chặt.
       Từ chỗ dựa Hoa Kỳ và Tầu cộng, Việt cộng cho rằng cả hai đế quốc này cũng muốn xử dụng họ như công cụ chiến lược một thời nhằm thành đạt ý đồ và lợi ích riêng. Do đó, Cộng đảng Việt Nam sẽ không sợ bị loại trừ, quá lắm chỉ tạo áp lực chừng mực thế thôi, họ vẫn nắm vững quyền lực, độc quyền áp bức bóc lột nhân dân trong một chế độ độc tài toàn trị mà nhân dân sẽ không có cách chi lật đổ chúng.
         Bởi vì chỗ dựa Tàu cộng, do cùng chủng loại độc tài toàn trị cộng sản, bị cột chặt quan hệ giữa hai cộng đảng từ lâu, nên luôn hổ trợ cho chính sách đàn áp, bóc lột nhân dân vì quyền lợi của tập đoàn thống trị độc quyền là Cộng đảng Việt Nam.
        Trong khi Hoa Kỳ nói riêng, các quốc gia dân chủ có ảnh hưởng nói chung, trên nguyên tắc luôn chủ trương chống lại mọi hình thái độc tài, hổ trợ các cuộc đấu tranh cho dân chủ của nhân dân các nước trong đó có nhân dân Việt Nam, tạo thành áp lực quốc tế đối với nhà cầm quyền Việt cộng. Thế nhưng trên thực tế mọi áp lực này đều dựa trên nền tảng quyền lợi quốc gia và  tự do, dân chủ và nhân quyển chỉ được Hoa Kỳ cũng như các chính quyền dân chủ khác xử dụng như một vũ khí áp lực trên đối tác nhằm thành đạt các lợi ích quốc gia của mình. Đúng như một số dân biểu Mỹ mới đây đã bày tỏ quan ngại trước điều mà họ cho là ‘đổi các giá trị nhân quyền lấy quan hệ với Việt Nam'.Những người này yêu cầu Tổng thống Barack Obama cần đặt điều kiện với chính phủ Việt Nam về cải thiện nhân quyền.
       Chính vì biết rõ nền tảng và mục tiêu chính sách hổ trợ các cuộc đấu tranh cho tự do và nhâ quyền của Hoa Kỳ và các  chính quyền dân chủ có ảnh hưởng với nhà cầm quyền Hà nội như thế, Việt cộng đã thực hiện đối sách “Mềm nắn, rắn buông”. Việt cộng đã bỏ ngoài tai mọi sự lên án, tố cáo, đòi hỏi của quốc tế về các vụ đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Việt cộng. Điển hình gần nhất là việc bắt giam trở lại Linh mục Nguyễn Văn Lý, tiếp tục đàn áp trắng trợn các cuộc biểu tình của nhân dân yêu nước chống Tầu cộng xâm lược và xử y án luật sư Cù Huy Hà Vũ chỉ vì các hoạt động đấu tranh cho dân chủ … Tất cả cho thấy Việt cộng giám chống lại nhân dân, thách thức công luận quốc tế vì chủ quan tin rằng, với  thế dựa ngoại bang như thế, nhân dân sẽ chẳng làm gì được chúng.
      Thành ra, dù Chỉ vài tiếng sau khi tòa phúc thẩm thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao Việt cộng  tuyên bố y án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với luật sư Cù Huy Hà Vũ vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có lên tiếng bày tỏ quan ngại với sự kêu gọi trả tự do 'ngay lập tức' cho ông, song hiệu quả thực tế có được đến mức nào thì còn tùy thuộc vào những biện pháp trừng phạt đi kèm có làm thiệt hại quyền lợi của cá nhân các lãnh đạo chóp bu hay của cả tập đoàn thống trị Cộng đảng Việt Nam.Nếu không thì suy đoán quá lắm cũng chỉ có thể bốc ông Vũ ra khỏi nhà tù đưa đến Hoa Kỳ tỵ nạn chính tri như trường hợp của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy mới đây. Nếu luật sư Cù Huy Hà Vũ đồng ý chẳng hạn, thì đó cũng chỉ là lại rơi vào  kế “Điệu hổ ly sơn” của Việt cộng mà thôi. Và như thế, chỉ có lợi cho Việt cộng, có hại cho phe chống cộng vì mục tiêu dân chủ hoá đất nước.
       Bởi vì những nhà dân chủ như nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, luật sư Cù huy Hà Vũ hay một số các nhà dân chủ khác trước đây, nếu từng là những con hổ đấu tranh dũng mãnh cho dân chủ trong lòng chế độ độc tài toàn trị Việt cộng, dù có lập được thành tích vang dội đến đâu chăng nữa, một khi ra hải ngoại sẽ thất thế,  không còn khí thế, bị cô lập và thậm chí còn bị thân bại danh liệt do chính những người chống cộng ở hải ngoại hoài nghi, chụp mũ, đánh phá cách này hay cách khác, vô tình rơi vào kế ly gián bằng kỹ thuật “Đặc tình truyền thông” của cộng sản. Kỹ thuật “Đặc tình truyền thông” đã và đang được Việt cộng thực hiện như thế nào, hiệu quả thự ctế ra sao, chúng tôi dự tính khi co thời gian, sẽ trình bầy chi tiết trong một bài viết khác sau này.

Thiện Ý
Houston, ngày 8-8-2011


Binh luan: Viet cong dang tu dao ho chon minh

Bình luận:
VIỆT SỘNG ĐANG TỰ ĐÀO HỐ CHÔN MÌNH.

Thiện Ý

        Tin tổng hợp giới truyền thông quốc tế và từ Việt nam cho hay, ngày 25-7-2011 vừa qua, nhà cầm quyền Việt cộng đã đến khu Nhà Chung thuộc Tổng Giáo Phận Huế, nơi Linh mục Nguyễn Văn Lý đang điều trị những căn bệnh hiểm nghèo,bắt giam trở lại Ngài, sau hơn một năm tạm đình chỉ thi hành bản án 8 năm tù giam, 5 năm quản chế về tội tuyên truyền chống cái gọi là nhà nước “Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
        Hành động bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý đưa trở lại nhà tù  giữa lúc những căn bệnh hiểm nghèo vẫn còn là nguy cơ cho tính mạng của Ngài, một lần nữa đã tự tố cáo trước nhân dân và công luận quốc tế tính tàn ác vô nhân đạo đã là bản chất cố hữu của nhà cầm quyền Việt cộng. Đồng thời, lý do đưa ra để bắt giam Linh mục Nguyễn Văn Lý,là vì đã “làm ra, tàng trữ và phát tán các tài liệu… chống Đảng và Nhà nước”, là lý do không chính đáng, bất hợp pháp. Bởi vì, tất cả những việc làm ấy của Linh mục Nguyễn Văn Lý là quyền tự do ngôn luận đã được chính Hiến pháp hiện hành của chế độ qui định, và đã được thực hiện một cách ôn hoà.
         Như vậy, việc bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý trở lại nhà tù chỉ là  hành động bịt miệng Ngài lần thứ hai, sau lần bịt miệng công khai trước phiên Toà xử Ngài tháng 3 năm 2007 tại Đà Nẵng thuộc Trung phần Việt Nam,với bản án 8 năm tù giam, 5 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Luật Hình sự của chế độ
      Chính vì sự bắt giam trở lại Linh mục Nguyễn Văn Lý một cách không chính đáng, vi phạm Hiến pháp hiện hành của chế độ cũng như những công ước quốc tế về các chính trị và quyền dân sự mà chính nhà cầm quyền Việt cộng đã ký kết và cam kết thi hành, nên đã gây phản ứng tức thời trước công luận quốc tế và sự bất bình, phẫn nộ của nhân dân trong nước.
      Điển hình là Hoa Kỳ, cường quốc mà Việt cộng đã và đang tìm cách dựa vào để tìm thế đối trọng đương đầu với tham vọng xâm lăng lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam của Tầu cộng, đã lên tiếng phản đối sớm nhất việc bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý trở vào nhà tù. Nghĩa là chỉ một ngày sau vụ bắt giam Cha Lý, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã ra Thông Cáo báo chí với sự quan tâm sâu xa và đòi hỏi mạnh mẽ, rằng “Chúng tôi quan ngại về quyết định của Chính phủ Việt Nam đưa nhà bảo vệ nhân quyền lâu năm Cha Nguyễn Văn Lý trở lại nhà tù vào ngày 25/7. Chúng tôi thúc giục Chính phủ Việt Nam thả ông ngay lập tức.Vì “ Cha Lý sau những cơn đột quỵ trong khi ông bị biệt giam. Cha Lý đang bị u não và cần tiếp tục được phép tìm cách điều trị y tế.” ; Và rằng “Không nên có cá nhân nào bị bỏ tù vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận.”
    Trong phần cuối của bản Thông cáo báo chí của Bộ Ngoài Giao Hoa Kỳ ngày 27-7-2011 còn nhắc lại khuyến cáo tháng 9/2010 của Nhóm Công tác LHQ về Giam giữ Độc đoán “rằng Cha Lý đã không được xử công bằng và khẳng định sự giam giữ ông là độc đoán, vi phạm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị, và kêu gọi thả ông ngay lập tức.”
    Cùng ngày 27-7-2011, tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế Human Rights Watch cũng đa ra thư tố cáo, lên án và đòi trả tự do ngay cho Linh mục Nguyễn Văn Lý. Rằng “Bắt cha Lý trở lại nhà tù chỉ làm nặng thêm tính độc ác và bất công của bản án đã tuyên cho ngài”, ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu.Vì rằng“Buộc cha Lý trở về nhà tù thêm năm năm nữa sẽ gây nguy cơ nghiêm trọng với sức khỏe của Ngài, và là sự vi phạm quyền bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa và quyền không bị tùy tiện bắt giữ của ngài”. Tổ chức này cũng kêu gọi các đối tác phát triển của Việt Nam, bao gồm Hoa kỳ, Liên minh Châu Âu, Úc, Ca-na-đa và Nhật Bản cần kiên quyết đặt vấn đề với chính phủ Việt Nam và yêu cầu trả tự do cho cha Lý. Theo đó,“Các nhà tài trợ cần nói rõ rằng việc Việt Nam tiếp tục công nhiên vi phạm nhân quyền và quyền tự do tôn giáo là không thể chấp nhận được”, và yêu cầu “Hoa kỳ cần đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về vi phạm tự do tôn giáo (CPC) cho đến khi Việt Nam cải thiện được thành tích về tự do tôn giáo của mình”.
         Tất nhiên, những đòi hỏi của Hoa Kỳ và quốc tế  trên hồ sơ bắt giam trở lại  Linh mục Nguyễn Văn Lý hiệu quả thực tế ra sao, thì còn tùy vào những biện pháp ngầm hay công khai của chính phủ Hoa Kỳ và các nước có ảnh hưởng trong những ngày tháng sắp tới, để áp lực trên nhà cầm quyền Hà Nội. Trước mắt ai cũng thấy việc bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý trở vào nhà tù cùng với hành động nghịch lý đàn áp thô bạo, bắt giam những người dân yêu nước tham gia các cuộc biểu tình chống ngoại bang xâm luợc lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc, nếu Việt cộng có thu được cái lợi trước mắt là làm đẹp lòng quan thầy Tầu cộng, chỗ dựa quyền lực của Cộng đảng Việt Nam, thì cái hại lâu dài là Việt cộng đã và đang tự đào hố chôn mình.
     Bởi vì, chính những hành động : “hèn với giặc, ác với dân”, Việt cộng  ngày càng mất thế dựa nhân dân, gia tăng các mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) với mọi tầng lớp nhân dân, tiến dần đến mâu thuẫn đối kháng với toàn xã hội, là lúc mà Lênin, môt trong các tổ sư của Cộng sản Việt nam, gọi là “Tình thế cách mạng chín mùi”. Cuộc cách mạng của quần chúng nhân dân nổ ra nhằm lật đổ giai cấp thống trị sẽ nhất định thành công. Bởi vì lúc đó, giai cấp thống trị độc quyền như Cộng đảng Việt Nam sẽ bị cô lập hoàn toàn, quân đội, công an là những lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ không còn dám đàn áp, bắn giết nhân dân nữa. Đó là thực tế đã xẩy ra ở Liên Xô và các nuớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước ngày sụp đổ, vào những năm cuối tập niên 80, đầu thập niên 90. Cứ theo đà này, chẳng còn bao lâu nữa Cộng đảng và chế độ độc tài toàn trị Cộng sản Việt Nam sẽ có chung số phận.

Thiện Ý
Houston, ngày 1 tháng 8 năm 2011

Binh luan: Du tinh sua doi Hien phap hien hanh cua Quoc hoi Viet cong

Bình luận:
 DỰ TÍNH SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP HIỆN HÀNH CỦA QUỐC HỘI VIỆT CỘNG.

Thiện Ý

          Theo tin từ Việt Nam, Quốc Hội mới của Việt cộng đã họp phiên khai mạc kéo dài 15 ngày bắt đầu từ sáng 21-7-2011 tuần qua. Trong khoá họp này,  hai  vấn đề lớn nhất trong nghị trình lần này là bàn về việc bổ sung Hiến pháp hiện hành 1992 và bầu ra các những người lãnh đạo cao nhất của nhà nước như: chủ tịch Quốc hội, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, v.v.
         Mặc dầu Hiến pháp hiện hành của Việt cộng qui định rõ Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, có quyền sửa đổi Hiến pháp, nhưng thực tế chỉ là một quốc hội công cụ của Cộng đảng Việt Nam. Do đó hai vấn đề lớn này đã được  Ban Chấp hành Trung ương XI của đảng Cộng sản Việt Nam họp trước đó từ ngày 4 đến 10 tháng 7 -2011 thông qua và nay quốc hội công cụ chỉ có nhiệm vụ thực hiện.
       Như vậy chẳng cần đợi phiên họp quốc hội diễn ra, mà chỉ căn cứ vào những quan điểm và nghị quyết của hội nghị Cộng đảng Việt Nam, người ta đã biết việc tu chỉnh Hiến pháp lần này  vẫn là theo ý đảng, trái với ý muốn của nhân dân, không đáp ứng được những biến chuyển của tình hình đất nước và xu thế thời đại.
      Thật vậy, việc bổ sung Hiến Pháp 1992 lần này, cũng như các lần sửa đổi trước đây, quốc hội công cụ của đảng vẫn không được đụng đến Điều 4 Hiến Pháp đã xác lập quyền lãnh đạo độc tôn,độc tài toàn trị của đảng Cộng sản Việt Nam.Trong khi ý dân đã từ lâu muốn loại bỏ vai trò này bằng việc bãi bỏ Điều 4 Hiến pháp, mở đường cho một chế độ dân chủ pháp trị đa nguyên. Bảng hiệu nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” trong Hiến pháp hiện hành vẫn phải giữ lại và tiếp tục xử dụng theo kiểu gian thương “Treo đầu dê bán thịt chó”,cưỡng từ đoạt lý một cách trơ trẽn.
      Vì thực tế hoàn toàn trái ngược với nội dung ý nghĩa của cụm từ này. Cộng hoà là chủ quyền quốc gia  thuộc về toàn dân, nhưng thực tế đã bị Cộng đảng cướp đoạt để làm chủ nhân dân. Xã hội chủ nghĩa, theo định nghĩa kinh điển cộng sản chủ nghĩa, là một xã hội không người bóc lột người, mọi người lao động theo năng lực và hưởng theo công sức bỏ ra. Thế nhưng thực tế Việt Nam đã và đang là một xã hội “người áp bức, bóc lột người” tàn tệ  chưa từng có trong lịch sử các hình thái xã hội loài người nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng, kể cả xã hội dưới chế độ thực dân, phong kiến trước đây.
       Đó  một xã hội  mà thực tế cho thấy những người lao động chân chính chiếm đa số, dù làm hết năng lực vẫn không được hưởng tương xứng với sức lao động bỏ ra. Trong khi, thiểu số giai cấp cầm quyền, những cán bộ, đảng viên cộng sản có chức có quyền không cần làm theo năng lực, không cần lao động, đã được hưởng theo chức quyền. Vì nhờ chức quyền, hay dựa vào chức quyền, quyền uy, giai cấp thống trị độc quyền cộng sản và tầng lớp ăn theo đã trở thành những nhà “Tư bản Đỏ”, “Tư Bản Xanh”.
       Đó là những Đại gia tỷ phú, triệu phú dollar, tiền rừng bạc bể, với đời sống sa hoa cách biệt quá sâu xa với tuyệt đại đa số giai cấp công nhân, nông dân và nhân nhân lao động nghèo; những giai cấp từng được Cộng đảng Việt Nam xưng tụng là đối tượng phục vụ và    chủ lực của “cách mạng vô sản”. Rồi tự nhận “Đảng” là đội tiền phong của giai cấp vô sản, Cộng đảng Việt Nam đã lừa mị, lợi dụng xương máu của các giai cấp cùng khổ này đề làm chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhưng sau khi đã giành được quyền thống trị trên cả nước, Cộng đảng Việt Nam đã dùng bộ máy nhà nước quay lại áp bức, bóc lột sức lao động không riêng gì giai cấp công, nông và nhân dân lao động, mà của cả toàn dân Việt, phục vụ cho quyền và lợi ích của tập đoàn thống trị Cộng đảng Việt Nam.
     Vậy mà giờ đây, sau 36 năm thống trị cả nước (1975-2011) và trước đó 21 năm thống trị nửa nước Miền Bắc (1954-1975), Cộng đảng Việt Nam vẫn trơ trẽn cố bám lấy cái gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin không tưởng đã làm tan hoang đất nước, vẫn cố giữ bảng hiệu bịp bợm“Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” hoàn toàn trái ngược với thực tiễn. Chính Nguyễn Phú Trọng, Tân Tổng Bí Thư Cộng đảng Việt Nam trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 2 ngày 10-7 -2011, đã  nhắc nhở  quốc hội cộng cụ khi bổ xung Hiến pháp, phải nhớ rằng Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phải căn cứ vào nội dung của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các văn kiện khác của Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam”;Rằng về chính trị  vẫn phải là, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” do Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo theo cái gọi là “chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”; Về kinh tế,vẫn theo con đường  “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”…
      Thật đúng là “Điếc không sợ súng”, đã đến “Giờ Thứ 25 của chủ nghĩa Mác-Lênin” và ngày tận số của một tập đoàn thống trị độc tôn, độc tài toàn trị đã gần kề, mà tập đoàn lãnh đạo chóp bu Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố,chưa thức thời để tu chỉnh lại Hiến pháp theo đúng ý nguyện của toàn dân. Vì vậy,hơn 87 triệu nhân dân bị trị trong nước, không thể trông chờ tập đòan thống trị Cộng sản Việt Nam  tự nguyện tự giác trả lại quyền làm chủ của nhân dân; cũng không có con đường nào khác là phải tiếp tục vùng lên, kiên trì đẩy mạnh đấu tranh bằng mọi phương cách khả thi và hữu hiệu để làm tiêu vong chế độ độc tài đảng trị cộng sản  tại Việt Nam càng sớm càng tốt.
                    Thiện Ý
Houston, ngày 25 tháng 7 năm 2011.

Binh luan: Y nghia cua cac cuoc bieu tinh chong Tau cong xam luoc

Bình luận:
MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG TẦU CỘNG XÂM LƯỢC VÀ VIỆT CỘNG BÁN NƯỚC.

Thiện Ý
        
        Như quý thính giả và độc giả đã biết, cao trào biểu tình đầy khí thế chống Tầu cộng xâm lược và Việt cộng bán nước đã nổ ra và lan rông từ trong nước ra hải ngoại, khởi đi từ cuộc biểu tình của mọi tầng lớp Quốc dân Việt Nam, với giới trẻ là chủ lực, vào  ngày Chủ Nhật 5-6-2011 tại Hà Nội và Sàigòn. Cao trào này chắc chắn sẽ còn kéo dài thêm thời gian, vì  trên thực tế Tầu cộng vẫn tiếp tục các hành động xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam và Việt cộng vẫn tiếp tục trấn áp các cuộc biểu tình chống ngoại xâm của quốc dân Việt Nam trong nước để làm đẹp lòng quan thầy, và vẫn bưng bít sự thật về mức độ bán nước của họ.
        Điển hình mới nhất, theo các hãng thông tấn AP và AFP trích dẫn lời của một viên chức biên phòng tỉnh Quảng Ngãi và được xác nhận bởi chính ngư dân nạn nhân, thì hôm mồng 5/7 vừa qua, binh lính Tầu cộng có vũ trang đã lại chận một tàu cá Việt Nam, đánh đập một ngư dân bị thương, và đe dọa các thuyền viên khác trước khi đuổi họ ra khỏi vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, nơi thuộc chủ quyền của Việt Nam.
        Trong khi đó nhà cầm quyền Việt cộng  vẫn tiếp tục ngăn cản,đánh đập,đàn áp và bắt giam hàng chục người dân yêu nước biểu tình quanh Đại sứ quán Tầu Cộng ở Hà Nội, lãnh sự quán Tầu cộng ở Sài Gòn và  Đà Nẵng trong những tuần lễ gần đây và mãi cho đến hôm nay.
       
          Như vậy cao trào biểu tình của Quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước,chống Tầu cộng xâm lược và Việt cộng bán nước có mục đích, ý nghĩa và tác dụng gì?
         Tất nhiên ai cũng biết cao trào biểu tình từ trong nước ra hải ngoại của quốc dân Việt Nam không nhằm và cũng không thể có tác dụng lấy lại ngay được  những phần lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo của Việt Nam đã bị Tầu cộng cướp đoạt bằng bạo lực hay  do Việt cộng dâng hiến, đổi trác  cách này cách khác xẩy ra trong thời kỳ chiến tranh quốc- cộng trước đây cũng như sau này. Thế nhưng qua các cuộc biểu tình này, quốc dân Việt Nam chỉ nhằm mục đích đánh động công luận quốc tế và tố cáo trước Liên Hiệp Quốc và cộng đồng các quốc gia trên thế giới, sự vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế qua hành động xâm lăng của Tầu cộng, đã ỷ vào sức mạnh ưu thế của một nước lớn ngang nhiên xâm lấn từng bước lãnh thổ, lãnh hải và các hải đảo của Việt Nam, bằng các quy định pháp lý, hành chánh đơn phương, như thiết lập các đơn vị hành chánh, vẽ lại bản đồ tự định đoạt chủ quyền của Tầu cộng, đã lấn chiếm hầu hết hải phận, hải đảo của Việt Nam trong vùng Biển Đông; Hoặc dùng bạo lực quân sự đánh chiếm các quẩn đảo Hoàng Sa, Trường Sa  của Việt Nam vào năm 1974 và 1988; thường xuyên tấn công, ngăn cản, bắt giữ, sát hại các ngư phủ Việt Nam khi họ đang đánh bắt cá trong vùng biển thuộc chủ quyền bao đời nay của Việt Nam; tấn cống thô bạo các tầu thăm địa chấn khai thác dầu khí trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.v.v…
        Nói cách khác, những cuộc biểu tình của quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, có ý nghĩa tương tự như những tiếng la báo động, cầu cứu của những chủ nhà hay nạn nhân khi bị giặc cướp đột nhập cướp phá, với sự tiếp tay của những tên gia nhân bất tín, bất trung. Bởi vì rõ ràng chủ nhà ở đây là quốc dân Việt Nam, những người chủ thực sự đất nước, đã và đang bị quân cướp nước là Tầu cộng xâm lấn bờ cõi, với sự tiếp tay của Việt cộng, là tập đoàn Cộng đảng Việt Nam đóng vai trò quản lý đất nước, nhưng đã bất trung, bất tín, đã cướp luôn quyền làm chủ dất nước của nhân dân, tự ý bán nước cho ngoại bang vì quyền và lợi của một tập đoàn thống trị độc quyền, độc tôn và độc tài.
      Và do đó, qua những tiếng thét phản kháng uất hận, cùng những Tuyên ngôn, Tuyên Cáo đanh thép vang lên từ các cuộc hội luận,biểu tình của Quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, còn mang ý nghĩa lên tiếng của những người chủ thực sự Đất nước, để phủ định mạnh mẽ mọi sự xâm chiếm và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các phần lãnh thổ, lãnh hải và các hải đảo của Việt Nam bị Tầu cộng cướp đoạt bằng bạo lực hay bằng các văn kiện bán nước của Việt cộng; Và rằng, với tư cách cộng đồng sở hữu chủ Đất Nước, những thừa kế chính danh mọi di sản của tiền nhân, Quốc dân Việt Nam bảo lưu tố quyền bất khả thời tiêu trước các cơ quan tái phán quốc tế có thẩm quyền, để bằng mọi cách và mọi giá trong tương lai, đòi lại các phần lãnh thổ, lãnh hải và các hải đảo của Việt Nam bị Tầu cộng chiếm đoạt, cho dù là 10 năm, 20 năm hay 100 năm sau này.
        Để thành đạt mục đích, ý nghĩa và tác dụng trên, cao trào biểu tình chống Tầu cộng cướp nước và Việt cộng bán nước cần phải được đẩy mạnh hơn nữa, với sự tham dự đông đảo của mọi tầng lớp quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Đồng thời, các nhà tổ chức biểu tình cần rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh kỹ thuật, nội dung các cuộc biểu tình sao cho đạt hiệu quả cao nhất về số lượng người tham dự cũng như chất lượng, không chỉ có tác dụng cổ vũ lẫn nhau, nâng cao lòng yêu nước và tự hào dân tộc, mà chính là  để ảnh hưởng được công luận từ nơi biểu tình , lan rộng được tác dụng trên toàn thế giới qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
       Điều quan trọng hơn  là làm sao cho  có được sự quan tâm, hổ trợ, can thiệp của tổ chức Liên Hiệp Quốc, các quốc gia trong cộng đồng thế giới, bằng hình ảnh sống động và các văn kiện chuyển ngữ truyền đạt được mục đích và ý nghĩa các cuộc biểu tình lan rộng ở trong cũng như ngoài nước của quốc dân Việt Nam.
     Riêng về phần mình, ngoài các cuộc biểu tình chống Tầu cộng cướp nước, điều mà Quốc dân Việt Nam trong nước cũng như đang sống rải rác trên toàn thế giới, có thể làm ngay là cùng nhau phát động và thực hiện triệt để việc tẩy chay toàn diện hàng hoá của Tầu cộng, với khẩu hiệu: “KHÔNG MUA, KHÔNG BÁN, KHÔNG DÙNG MỌI SẢN PHẨM NHÃN HIỆU MADE IN CHINA”.
Thiện Ý
Houston, ngày 18 tháng 7 năm 2011

* ĐỀ NGHỊ: Các cơ quan truyền thông Việt Nam và các cá nhân Quốc Dân Việt Nam trong cũngnhư ngoài nước xử dụng: “Tầu cộng” thay vì “Trung cộng” và “nước Tầu” thay vì “Trung Quốc”

Binh luan: Trung cong xam luo cva doi sach cua Viet Nam

Bình luận:
TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT CỘNG?

Thiện Ý

         Như quý độc giả đã biết, vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6-2011, tầu Bình Minh -2 và sau đó một tuần là tàu Viking 2 thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đang tiến hành thăm dò địa chấn trong khu vực thềm lục địa Việt Nam thì bị  tàu hải giám Trung Quốc tấn công. Vấn đề đặt ra là sau hai sự kiện này  nhà cầm quyền Việt cộng đã có phản ứng và đối sách ra sao?
          Một cách tổng quát, trước hết Việt cộng thực hiện một phép thử để thăm dò phản ứng của Trung cộng, giải toả phần nào sự phẫn nộ của quần chúng nhân dân và đo lường mức độ hậu thuẫn của Hoa Kỳ, sau đó thực hiện chính sách hoà hoãn với Trung cộng, đi giây giữa Hoa Kỳ và Trung cộng để thoát hiểm và tồn tại.        
       
         Thật vậy, đối với Trung cộng, lúc đầu Bộ Ngoại Giao Việt cộng đã ra tuyên bố với cường độ cứng rắn hơn về chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo ở Biển Đông và tố cáo những hành động mới nhất của Trung cộng vi phạm chủ quyền Việt Nam qua việc cắt cáp hai tầu thăm dò dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam. Đồng thời, các nhà lãnh đạo hàng đầu nhà nước như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, đã đưa ra những lời tuyên bố cứng rắn khác thường, làm như đã đến lúc phải bầy tỏ  quyết tâm đương đầu và sẵn sàng có hành động thích ứng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam theo đòi hỏi của nhân dân, trước hành động ngày càng lấn lướt thô bạo của Trung cộng.
         Cùng lúc Việt công công bố một cuộc tập trận bắn đạn thật trong vùng Biển Đông thuộc lãnh hải Việt Nam; báo chí nhà nước loan tải tin mua khí tài quân sự của nước ngoài để tăng cường sức mạnh phòng thủ; ra lệnh tổng động viên để ra vẻ chiến tranh vệ quốc đã gần kề ; gửi người tham gia Hội thảo về An ninh ở Biển Đông diễn ra tại Washington ngày 20 và 21 tháng 6 năm 2011, như để phô trương thế liên kết, làm như đã có được hậu thuẫn của Hoa Kỳ, nhằm giải quyết đa phương tranh chấp tại Biển Đông, chống lại chủ trương của Trung cộng dựa vào ưu thế muốn giải quyết song phương, rất bất lợi cho thế yếu của Việt Nam và các nước đang có tranh chấp chủ quyền với Trung cộng  tại Biển Đông.
         Tuy nhiên,bên cạnh thái độ có vẻ cứng rắn này, ngoài ý đồ làm phép thử đo lường phản ứng của Trung cộng và mức độ hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Việt cộng còn tìm cách giải toả cường độ phẫn nộ của quần chúng nhân dân dưới biên độ “tức nước vỡ bờ”, bằng cách lúc đầu đã để cho các cuộc biểu tình tự phát của nhân dân trong nước nổ ra ở hai thành phố lớn Hà Nội và Sài gòn từ hôm Chủ nhật 5.6.2011, rồi sau đó tìm cách trấn áp làm giảm dần cường độ và mức độ lan rộng trên cả nước các cuộc biểu tình chống Trung cộng cho đến hôm nay.
        Dường như Cộng đảng Việt Nam đã có dự trù con đường thối lui trong phép thử, nên cùng lùc bầy tỏ thái độ và hành động cứng rắn khác thường, đã để cho Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh, khi trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ đã đưa ra quan điểm giải quyết song phương hữu nghị tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung cộng, phù hợp với chủ trương của Trung cộng, nhưng trái ngược hoàn toàn với quan điểm của các ông Nguyễn Tấn Dũng và  Nguyễn Minh Triết, muốn giải quyết đa phương dựa vào hậu thuẫn của Hoa Kỳ và khối ASEAN.
     Qua các động thái  trên, rõ ràng là Việt cộng đã chỉ làm những động tác giả để thăm dò phản ứng của Trung cộng đến mức nào, để tùy cơ ứng biến. Vì kết quả phép thử này cho thấy, Trung cộng đã có phản ứng khá quyết liệt và cứng rắn, vừa tái khẳng định chủ quyền lãnh hải, hải đảo ở Biển Đông của Trung quốc không thể tranh cãi, vừa công khai, mạnh mẽ lưu ý Hoa Kỳ không nên can thiệp vào vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ làm cho tình hình Biển Đông xấu hơn và nguy hiểm hơn, không có lợi cho quan hệ Mỹ -Trung và hoà bình trong vùng. Đồng thời, Trung cộng cũng lên tiếng cảnh cáo Việt cộng không nên dựa vào Mỹ chống lại họ, và đe doạ sẵn sàng dậy cho Việt Nam một bài học như đã từng hành động vào năm 1979, khi xua quân tấn công,chiếm đóng khoảng một tháng, rồi tàn sát, phá hủy gần như hoàn toàn 6 tỉnh Phía Bắc của Việt Nam.
        Vào thời điểm này Việt cộng chọn Liên Xô làm Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa của mình đã làm phật ý Trung cộng, nhưng Liên Xô đã không dám làm gì để cứu Việt cộng, và dù cả Việt Nam, Trung cộng lúc đó đã là những quốc gia hội viên, nhưng Liên Hiệp Quốc đã im lặng trước cuộc xâm lăng trắng trợn của một nước hội viên ỷ thế lớn mạnh,đối với một nước hội viên nhỏ yếu khác. Rồi đến sự kiện năm 1988, hải quân Trung cộng đã tiêu diệt hoàn toàn một lực lượng hải quân Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ hải phận và hải đảo Việt Nam, Việt cộng vẫn ngậm miệng không giám đưa vụ việc ra trước Liên Hiệp Quốc để nhờ phân xử. Và sau đó, Trung cộng nhiều lần có hành động tấn công bắn giết, tịch thâu tầu bè ngư cụ của ngư dân Việt Nam đang đánh bắt cả trong vùng biển Việt nam, xâm phạm thô bạo chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam, một cách có hệ thống  kéo dài cho đến hôm nay, Việt cộng vẫn phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”, vẫn âm thầm chịu đựng và chỉ giám có phản ứng yếu ớt, tránh né.
      Nay mới thử có động thái cứng rắn khác thường, đã nhận chịu ngay phản ứng quyết liệt và cứng rắn của Trung cộng, trong khi đánh giá sự hậu thuẫn của Hoà Kỳ vẫn mờ nhạt, chỉ có tính nguyên tắc, thực tế không có gì bảo đảm, Việt cộng đã vội xuống nước, cử Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn qua Trung Quốc hội đàm với cấp ngoại giao tương đương vào ngày 25-6-2011. Cuộc mật đàm mau chóng đưa đến kết quả là một bản Thông cáo chung với nội dung duy trì nguyên trạng trước khi có xung đột gây căng thẳng. Nghĩa là Trung cộng vẫn như từ trước đến nay, khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi trên các vùng biển và hải đảo trong Biển Đông, với chủ trương giải quyết song phương các tranh chấp về chủ quyền thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị, củng cố tình hữu nghị Việt – Trung theo đúng phương châm 16 chữ vàng  láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” dù thực tế hoàn toàn trái ngược.
       Vì sao Việt cộng phải xuống nước như vậy và xuống nước đến mức độ nào? Mọi tầng lớp nhân dân trong nước cũng như quốc dân Việt Nam ở hải ngoại đang rất lo ngại đã có những sự nhượng bộ bất lợi cho Việt Nam, nên đã đòi nhà cầm quyền Việt cộng phải bạch hoá nội dung mật đàm giữa phái đoàn Thứ trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn với phái đoàn Trung cộng cấp tương đương tại Bắc Kinh ngày 25-6-2011.
        Tất nhiên nhà cầm quyền Việt cộng không thể và không gíám đáp ứng đòi hỏi chính đáng của quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, những người chủ thực sự Đất Nước và là thừa kế chính danh mọi di sản của Tiền Nhân.
         Sở dĩ Việt cộng không giám đáp ứng đòi hỏi của Quốc dân Việt Nam, vẫn phải bưng bít, tìm cách che dấu sự thật trong quan hệ giữa Trung cộng và Việt cộng liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải, những sự thật từ trước đến nay, trong chiến tranh cũng như sau chiến tranh, không phải có lẽ mà chắc chắn là vì Việt cộng đã có những hành động bán đất, nhượng biển và hải đảo cách nào đó cho Trung cộng để có thế và lực giành chiến thắng trong chiến tranh thôn tính Miền Nam trước đây và thế dựa lưng để củng cố quyền thống trị độc tôn, độc quyền của Cộng đảng Việt nam, trong một chế độ độc tài toàn trị cộng sản trên cả nước sau này.
         Một dấu hiệu bán nước của tập đoàn thống trị cộng sản Việt Nam lộ ra là vào năm 1958, khi đất nước còn chia đôi, Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở nửa nước Miền Bắc đã gửi công hàm cho Thủ tướng Trung cộng Chu Ấn Lai, tán đồng bản tuyên bố đơn phương về chủ quyền trên hải phận và hải đảo của Trung Quốc tại Biển Đông.Mặc dầu công hàm này không có giá trị pháp lý theo công pháp quốc tế, vì lúc đó các hải đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) ở Biển Đông thụộc chủ quyền Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia ở Miền Nam Việt Nam.Thế nhưng Trung cộng vẫn vin vào công hàm này để bắt bí Việt cộng về mặt pháp lý.
       Có lẽ vì hành vi công khai thừa nhận cùng với nhiều cam kết bí mật khác nào đó với Trung cộng liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải và các hải đảo ở Biển Đông, nên dù đã phải nhượng bộ xuống nước như vậy, nhưng trên thực tế cho đến lúc này, Trung cộng vẫn tiếp tục các hành động lấn chiếm biển và hải đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam như đã làm bao lâu nay.
        Qua mật đàm cấp Thứ Trưởng Ngoại Giao giữa Trung cộng và Việt cộng ngày 26-6-2011, có lẽ những thừa nhận công khai cũng như những cam kết bí mật của Việt cộng liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải và các hải đảo đã được Trung cộng nhắc lại. Điều mà Trung cộng có thể cho phép trong lúc này là Việt cộng vẫn được tiếp tục lên tiếng xác nhận chủ quyền không tranh cãi các vùng biển đảo của Việt Nam và tiếp tục các hành động bên ngoài như để củng cố quan hệ an ninh, quốc phòng với Hoa Kỳ, cụ thể như tham dự cuộc tập trận trên Biển Đông với hải quân Hoa Kỳ một tuần khởi sự vào ngày 15-7-2011. Đây chỉ là động tác giả mà Việt cộng được phép làm, với sự ngầm cho phép của Trung cộng, để xoa dịp tình hình, để Mỹ không có cớ can thiệp mạnh và sâu hơn nữa vào cuộc tranh chấp Biển Đông, nhân danh quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ từng được Hoa Kỳ khẳng định nhiều lần, gần nhất là ngay trong ngày 10-7-2011 mới đây, ngày đầu tiên công du Trung Quốc bốn ngày, tham mưu trưởng quân đội Mỹ Đô Đốc Mike Mullen khẳng định, Hoa Kỳ kiên quyết duy trì sự hiện diện của mình tại Biển Đông. Mặc dù nhấn mạnh đến mong muốn của Hoa Kỳ về một giải pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, đô đốc Mike Mullen vẫn khẳng định :
“Mỹ sẽ không rời khỏi khu vực. Sự hiện diện lâu dài của chúng tôi trong khu vực đã rất quan trọng với các đồng minh của chúng tôi trong nhiều thập kỷ qua, và sẽ tiếp tục đóng vai trò như vậy".

        Sự thể này cho thấy nội bộ Cộng đảng Việt Nam đã có sự phân hoá là thật, song không có sự lựa chọn nào khác giữa hai khuynh hướng thân Mỹ và thân Tầu cộng, buộc họ phải thoả hiệp về một chính sách đi dây giữa Hoa Kỳ và Trung cộng.
         Nghĩa là Việt cộng tiếp tục chính sách hoà hoãn hữu nghị với Trung cộng, song song với chính sách liên kết tìm hậu thuẫn của Hoa Kỳ, ít ra bề ngoài như một đối trọng gián chỉ phần nào tham vọng bành trướng lãnh thổ lãnh hải củaTrung cộng. Việt cộng có lẽ cũng biết rằng: Một mình không đủ sức đương đầu với Trung cộng về quân sự do tương quan lực lượng không cân sức. Nhưng vẫn không giám mạnh bạo dựa hẳn vào Mỹ để đối đầu với Tầu, nên phải chấp nhận hoà hoãn với Tầu với chính sách đi giây giữa Mỹ và Tầu.Vì đánh giá khi hữu sự như nổ ra xung đột,chiến tranh cục bộ với Trung cộng, cho dù sau này có đạt được một hiệp ước an ninh hổ tương như  giữa Mỹ và Philippine năm 1951 đi chăng nữa, vẫn không có gì bảo đảm rằng  Hoa Kỳ sẽ can thiệp, một khi quyền lợi của Mỹ đối với Việt Nam không thể so sánh với quyền lợi của Mỹ đối với Trung Quốc.
        Bởi hơn ai hết, Việt cộng phải biết đến bài học quá khứ này:Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn dựa trên quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ. Vì quyền lợi lớn hơn có được với Trung cộng, Hoa Kỳ đã bỏ rơi Đài Loan và Nam Việt Nam trong thập niên 70, dù trước đó đã có những hiệp ước song phương cũng như đa phương  cam kết, bảo đảm thực thi. Và rằng, thực tế trước sau gì thì Việt Nam và các nước nghèo yếu trong vùng vẫn chỉ được Hoa Kỳ xử dụng như những con chủ bài để mà cả với Trung cộng về quyền lợi của Hoa kỳ tại Biển Đông nói riêng, vùng Đông Nam Á nói chung. Nếu quyền lợi này được Trung cộng thoả mãn, điều gì sẽ xẩy cho Việt Nam nói riêng và các quốc gia đang có tranh chấp Biển Đông với Trung cộng nói chung, thì chắc ai cũng có thể đoán được.
      Điều gì sẽ xẩy ra cho Việt Nam nói riêng, chính là mối lo âu của Quốc Dân Việt Nam, gồm hơn 85 triệu nhân dân Việt Nam trong nước và khoảng 4 triệu người Việt hải ngoại,  hoàn toàn khác với mối lo âu của đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Vì từ quá khứ đến hiện tại và cả tương lai nữa, điều mà Cộng đảng Việt Nam lo âu là làm thế nào và bằng mọi giá bảo vệ cho được sự trường tồn sinh mạng chính trị , để lưu truyền ưu quyền đặc lợi lâu dài cho nhiều thế hệ cha truyền con nối của một tập đoàn thống trị độc tôn, độc quyền áp bức bóc lột và toàn quyền buôn dân bán nước.
     Vì vậy, cùng với mối lo âu chung về điều gì sẽ xẩy ra cho Việt Nam, Quốc Dân Việt  Nam cần tập trung trí tuệ và lực lượng, đoàn kết một lòng để có một đối sách hữu hiệu bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam trước  tham vọng xâm lăng của Trung cộng, khác với đối sách bán nước của Việt cộng tay sai ngoại bang.
Thiện Ý
Houston, ngày 11-7-2011

Binh luan: Y nghia ngay quoc khanh Hoa Ky va uoc vong cua nguoi Viet Nam

Bình luận:
Ý NGHĨA NGAY QUỐC KHÁNH HOA KỲ VÀ ƯỚC VỌNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM.

Thiện Ý
        
         Hôm nay Thứ Hai Mùng 4-7-2011, nhân dân Hoa Kỳ ăn mừng Lễ Ðộc Lập lần thứ 235  , và cũng như hàng năm, với nhiều nghi lễ công cộng trang trọng và các cuộc vui chơi giải trí cá nhân hay gia đình trong một cuối tuần dài ngày; và tất nhiên bầu trời luôn rực sáng những chùm pháo bông lớn nhỏ với âm thanh quen thuộc lách tách đì đùng đó đây như bầy tỏ một niềm vui to lớn của nhân dân Hoa Kỳ.Tuy nhiên,vì hiểm hoạ cháy rừng, cháy nhà trong mùa nắng hạ, một số tiểu bang trong đó có Tiểu Bang Texas năm nay đã có lệnh cấm đốt pháo trước, sau và trong ngày Jully 4th. Nhân dịp này, chúng tôi muốn đề cập đến ý nghĩa ngày Jully 4th và ước vọng chung của quốc dân Việt Nam, nhân  ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ.
    Trước hết, về ý nghĩa lịch sử, thì Ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ đánh dấu ngày giành được độc lập từ tay Ðế Quốc Anh, của nhân dân Hoa Kỳ cách nay 235 năm ( 1776 – 2011 ).
      Ngược dòng thời gian, lịch sử lập quốc Hoa kỳ đã ghi nhận rằng, vào năm 1492, một người Ý tên Christopher Columbus và đoàn tùy tùng là những di dân đầu tiên đã khám phá và đặt chân lên Ðại Lục Bắc Mỹ, gọi là Tân Thế Giới, tức Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ ngày nay. Trong những thập niên đầu và nhiều thập niên sau đó, đã có thêm nhiều người từ các nước Châu Âu như Pháp, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Hoà Lan, Ðức, Nga… đã đua nhau tìm đến vùng đất mới, với mục đích truyền đạo hay tìm kiếm những cơ hội mưu sinh tốt đẹp và tự do hơn. Hầu hết những di dân này được mô tả là những người có óc mạo hiểm, tinh thần tự do phóng khoảng, một khả năng sáng tạo, khôn khéo và siêng năng làm việc. Nhất là có chung khát vọng về một cuộc sống độc lập, tự do hơn nơi nguyên quán của mình.
         Theo thời gian, các sắc dân đã qui tụ thành 13 tiểu bang đầu tiên, song lúc đầu tất cả đều bị Ðế Quốc Anh thống trị. Do chính sách cai trị áp bức, bóc lột và bất công của chế độ thuộc địa Anh, đã bác đoạt nhiều quyền tự do và quyền lợi kinh tế của dân thuộc địa, nên ngày 10 tháng 5 năm 1775, đại biểu 13 Tiểu Bang đầu tiên đã nhóm họp tại Philadelphia, cử George Washington làm Tổng Tư Lệnh quân đội, tuyên chiến chống chế độ thuộc địa của Ðế Quốc Anh. Cuộc chiến tranh chính nghĩa giành độc lập này đã mau chóng  thành đạt được thắng lợi sau cùng.
        Ngày 4 Tháng 7 Năm 1776 Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập đã được các đại biểu dân cử của 13 Tiểu Bang thông qua và công bố trước thế giới, rằng tư đây, các thuộc địa đã hoàn toàn độc lập, tách rời khỏi quyền thống trị của Ðế Quốc Anh. Mười ba thuộc địa đã trở thành 13 tiểu bang đầu tiên, khai sinh ra chế độ Tự Do Dân Chủ và ngày 4 Tháng 7 đã là ngày Quốc Khánh của quốc gia Liên Bang Hoa Kỳ. Ngày nay, quốc gia liên bang ấy đã phát triển thành 50 tiểu bang, với khoảng trên dưới  300 triệu dân và được coi là một quốc gia hùng mạnh nhất, tự do dân chủ  vào bậc nhất thế giới.
         Từ vị trí là một quốc gia hùng mạnh và Tự Do Dân Chủ vào bậc nhất thế giới, Hoa Kỳ đã và đang đóng vai trò một trung tâm quyền lực ưu thế, có ảnh hưởng quyết định đến chiều hướng phát triển chung của thế giới. Từ vị trí, vai trò và ảnh hưởng vượt trội này, Hoa Kỳ đã trở thành một mẫu mực, một ước mơ vươn tới của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác  trên thế giới.
              Chính vì vậy, bên cạnh ý nghĩa lịch sử, Ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang ý nghĩa thời đại. Bởi vì những tư tưởng về tự do và nhân quyền được minh định trong Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ngày 4 Tháng 7 Năm 1776, đã mang một giá trị vĩnh cửu vượt không gian và thời gian:
‘‘ Rằng mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Chính Ðấng Tối Cao đã ban cho họ một số quyền lợi nhất định mà không ai có thể tước đoạt. Mọi người có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’’(  That all men are equals. The Supreme Being has given them certain rights Wich no one can take away. All people have the right to live, the right to be free, and the right to try to find happiness.) .
          Bên cạnh những tư tưởng về tự do và nhân quyền này, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn xác lập một chế độ tự do dân chủ, mà cho đến nay vẫn còn giá trị thời đại, với những quan niệm về một chính quyền thực sự ‘‘ Của dân, do dân và vì dân’’, được nhiều quốc gia trên thế giới tiếp nhận và vận dụng vào thực tiễn. Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Ðộc Lập Hoa Kỳ viết:
      ‘‘Chính quyền được tạo thành bởi dân là để bảo vệ dân. Nếu một chính quyền cưỡng đoạt những quyền lợi của dân, nhân dân có quyền thay đổi hay hủy diệt chính quyền cũ và tạo lập một chính quyền mới’’ ( Governments are formed by people to protect people. If a government tries to take away the people’ s rights, the people have the right to change or abolish the old government and to forme a new one ).
          Như vậy có thể nói, nhân dân Hoa Kỳ có quyền tự hào về đất nước vĩ đại của mình. Vì chỉ với lịch sử dựng nước trên 200 năm, mà đã kiến tạo được một đất nước hùng cường, với một chế độ tự do dân chủ bậc nhất, được coi là mẫu mực cho nhiều quốc gia noi theo. Một đất nước hùng cường, vì có nền kinh tế phát triển cao độ (dù hiện tại đang rơi vào thời kỳ khủng hoảng, bất ổn tạm thời) , với nền quân sự quốc phòng hùng mạnh và khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới; nhân dân Hoa Kỳ được sống tự do, ấm no, hạnh phúc trong khung cảnh một chế độ dân chủ pháp trị đích thực. Ðặc biệt là nền văn hoá, văn minh đa chủng Hoa Kỳ đã thu hút được nhiều nhân tài từ nhiều quốc gia khác và tạo được ảnh hưởng tràn lan trên khắp thế giới.
        
         Trông người lại nghĩ đến ta, hơn một triệu người Việt Nam đang sống trên đất nước vĩ đại này không khỏi có những suy tư về một đất nước non trẻ, đa chủng,  chỉ với hơn hai trăm năm lịch sử lập quốc, mà đã có thể kiến tạo một đất nước hùng cường và một chế độ tự do dân chủ bậc nhất. Trong khi chúng ta từng tự hào về 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, thì vẫn còn bị xếp vào hàng các nước nghèo nhất trên thế giới, và tuyệt đại đa số trên 80 triệu quốc dân Việt Nam  vẫn đang sống trong cảnh đói nghèo tự do, đói nghèo cơm áo. Suy tư để tự hỏi rằng, vì đâu đất nước và nhân dân ta ra nông nỗi này? 
       Câu trả lời ngắn gọn: tất cả đều do một nguyên nhân chủ yếu, là vì đảng và do đảng Cộng Sản Việt Nam gây ra. Vì tập đoàn thống trị độc tôn, độc quyền này, hơn nửa Thế kỷ qua (1954-2011) đã áp đặt một chế độ chính trị độc tài toàn trị, phản dân chủ, độc quyền áp bức bóc lột, với một chính quyền không phải ‘‘ Của dân, do dân và vì dân’’, mà là một chính quyền  ‘‘ Của đảng, do đảng và vì đảng Cộng Sản Việt Nam’’, chỉ biết dựa vào ngoại bang, bán nước  để củng cố, kéo dài quyền thống trị nhân dân. Và vì vậy, đã không huy động được sức mạnh tổng hợp và tài năng sáng tạo toàn diện của mọi tầng lớp nhân dân vào công cuộc phục hưng xứ sở, làm cho dân giầu nước mạnh. Ðây là nguyên nhân chủ yếu cũng đã được nhân dân trong nước và ngay cả một số không ít những đảng viên “Cộng sản phản tỉnh”  nhìn ra được vấn đề và đồng thuận về cách giải quyết vấn đề tốt nhất, là phải loại trừ càng sớm càng tốt, tập đoàn thống trị độc quyền và cả chế độ độc tài toàn trị cộng sản, phản dân, bán  nước tay sai ngoại bang hiện nay.
        Một khi mục tiêu tối hậu này đạt được trong tương lai không xa, Việt Nam cũng sẽ có một ngày quốc khánh mang ý nghĩa trọn vẹn như ý nghĩa của ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ. Vì ngày Quốc Khánh đó đánh dấu ngày nhân dân Việt Nam hủy diệt được chế độ độc tài toàn trị cộng sản, như nhân dân Hoa Kỳ đã lật đổ được ách thống trị thuộc địa của đế quốc Anh 235 năm trước đây, để thiết lập một chế độ tự do dân chủ đích thực trên quê huơng Việt Nam, tạo tiền đế phát triển đất nước đến giầu mạnh, như nhân dân Hoa Kỳ đã tạo dựng được một chế độ tự do dân chủ mẫu mực trên đất nước của họ, và một đất nước hùng cường bậc nhất như hiện nay, dưới ánh sáng soi đường của Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ngày 4 Tháng 7 Năm 1776.
                     Thiện Ý
 Houston, ngày 4 tháng 7 Năm 2011