Tuesday, October 6, 2015

Tham luận: VẤN ĐỀ HÒA GIẢI VÀ HÒA GIẢI DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM



Tham luận:
VẤN ĐỀ HÒA GIẢI VÀ HÒA GIẢI DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

Thiện Ý

*ĐẶT VẤN ĐỀ:
      Hàng năm biến cố 30-4-1975 thường được người Việt Quốc gia (xin goi tắt Việt quốc) tưởng niệm như một ngày “Quốc hận”. Trong khi đảng và nhà cầm quyền  cộng sản Việt Nam (xin gọi tắt là Việt cộng) thì thường tổ chức kỷ niệm như một ngày “Đại thắng Mùa Xuân”.
      Thế nhưng năm nay nếu phía Việt quốc ở hải ngoại vẫn tổ chức ngày “Quốc hận” như mọi năm, thì trong nước phía Việt cộng đã có sự khác thường: khác mọi năm trước đây, đã không tổ chức rầm rộ, dưới nhiều hình thức để ăn mừng 30-4-1975 trên cả nước như một “Đại thắng Mùa xuân. Đồng thời lại làm ngơ cho các cuộc tụ tập đông người, nơi thì tổ chức lễ tưởng niệm các tướng lãnh VNCH đã tuẫn tiết trước hay trong ngày 30-4-1975; nơi khác thì tổ chức vinh danh những thương phế bình VNCH qui tụ hàng trăm người. Đặc biệt nhất là đã không đàn áp dân oan biểu tình trước Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Sài gòn vào dịp 30-4, với các khẩu hiệu  minh thị chống đảng và chế độ cộng sản hiện nay nặng nề và coi ngày 30-4-1975 là ngày “Uất hận của nhân dân Miền Nam, của dân tộc Việt Nam”, ngày mà sau đó họ đã ‘mất tài sản, đất đai và mất tự do, dân chủ và nhân quyền…”
      Mặt khác, Thứ trưởng ngoại giao Việt cộng Nguyễn Thanh Sơn đặc trách về người Việt nam ở nước ngoài cũng đã có những hoạt động tiếp súc với một số người Việt có tiếng chống cộng ở hải ngoại và mời gọi “kiều bào” về nước tham quan hải đảo Trường Sa, viếng nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi chôn cất của hàng chục ngàn tử sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng vừa qua.
     Tất cả các hiện tượng không bình thường và việc làm của viên Thứ Trưởng đặc trách về người Việt ở nước ngoài vừa nêu, công luận có người cho đó là dấu hiệu phía Việt cộng muốn tạo tiền đề cho “Hòa giải và hòa hợp dân tộc”.Thế nhưng về phía Việt quốc đó đây vẫn vang lên tiếng nói quyết liệt chống “Hòa giải va hòa hợp dân tộc”.
      Để thấy rõ thực chất và thực tế của vấn đề “Hòa giải và hòa hợp dân tộc”, chúng tôi lần lượt trình bầy:
   - Vì sao hòa giải và hòa hợp dân tộc đã không thành tựu tại Việt Nam?
   - Phương cách nào có thể thành tựu hòa giải và hòa hợp dân tộc tại Việt Nam?
I/- VÌ SAO HÒA GIẢI VÀ HOA HỢP ĐÃ KHÔNG THÀNH TỰU TẠI VIỆT NAM?
      Vấn đề hòa giải và hợp dân tộc đã được nêu ra từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành tựu ở Việt Nam, dù đó là ước muốn chung của bất cứ người Việt Nam yêu nước nào. Vậy vì sao hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa thành tựu tại Việt Nam?

      Theo nhận định của chúng tôi nguyên nhân căn bản chủ yếu là sự bất đồng về phương thức thực hiện “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” giữa khối người Việt quốc gia chống cộng với đảng và nhà cầm quyền hiện nay tại Việt Nam và sự thiếu tin tưởng vào thực tâm và thiện chí muốn hòa giải của các bên.
     Thật vậy, để thấy được sự bất đồng vừa nêu, trước hết phải hiểu ý nghĩa chung và ý nghĩa riêng của cụm từ “Hòa giải và hòa hợp dân tộc”.
     Về ý nghĩa chung: hoà giải là giải quyết mâu thuẫn một cách hoà bình để đi đến sự hợp nhất trong hoà bình. Nếu mâu thuẫn ấy là mâu thuẫn trong lòng một dân tộc, thì hoà giải và hoà hợp dân tộc là mâu thuẫn ấy cần được giải quyết một cách hoà bình để đi đến sự hoà hợp dân tộc trong hoà bình.
     Từ ý nghĩa chung, đi vào ý nghĩa riêng của hoà giải và hoà hợp dân tộc tại Việt Nam: Đó là giải quyết một cách hoà bình mâu thuẫn phát sinh từ cuộc nội chiến Ý Thức Hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam và tồn tại trong lòng dân tộc việt Nam cho đến hôm nay, để đi đến hoà hợp dân tộc.
       Trong ý nghĩa riêng này cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc”. Theo nghĩa rộng là giải quyết hoà bình mâu thuẫn trong lòng dân tộc giữa những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia và những người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản. Theo nghĩa hẹp là giải quyết hoà bình mâu thuẫn trong lòng dân tộc giữa hàng ngũ lãnh đạo trong cuộc chiến tranh quốc - cộng vừa qua (1954-1975) và cho đến hôm nay.
    Theo nhận định của chúng tôi, đã từ lâu chứ không phải đợi đến bây giờ 39 năm sau ngày 30-4-1975 chấm dứt cuộc chiến tranh quốc – cộng tại Việt Nam, nghĩa rộng của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” không còn giá trị thực tế. Vì thực tế nhân dân hai Miền Bắc Nam đã tự giác “hòa giải và hòa hợp” từ lâu sau khi tự hoá giải mâu thuẫn một cách hoà bình bằng chính thực tiễn cuộc sống sinh động đã giúp tất cả có chung nhận thức về thực chất của cuộc chiến tranh quốc-cộng hôm qua (1954-1975) chỉ là một cuộc chiến do ngoại bang thực hiện, thông qua những chính quyền công cụ bản xứ, xô đẩy nhân dân hai miền Bắc –Nam vào một cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, bằng những chiêu bài lừa mị, đã tàn phá tan hoang đất nước, phân hoá dân tộc, để lại di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho đất nước.
        Như vậy thực tế nay chỉ còn tồn tại trong lòng dân tộc ý nghĩa hẹp của cụm từ “Hoà giải và hoà hợp dân tộc”. Nghĩa là chỉ còn tồn tại mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc thuộc hai phe Quốc-Cộng. Thế nhưng hòa giải và hòa hợp dân tộc vẫn chưa thực hiện được tại Việt Nam vì các nhà lãnh đạo hai phe Việt quốc và Việt cộng vẫn chưa thống nhất được phương cách hòa giải để đi đến hòa hợp dân tộc một cách hòa bình.
    Về phía Việt cộng thì cho đến nay vẫn đã không chính thức đưa ra chủ trương, chính sách và lịch trình cụ thể nào để thực hiện “Hòa giải và hòa hợp dân tộc”. Trên thực tế bao lâu nay, ở thời điểm này hay thời điểm khác, Việt cộng vẫn chỉ đơn phương kêu gọi người Việt quốc gia hãy quên quá khứ, quên hận thù, đừng chống cộng nữa, mà hãy hợp tác toàn diện, vô điều kiện với đảng và nhà cầm quyền trong chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay, để xây dựng phát triển đất nước. Nghĩa là không có hòa giải (giải quyết những mâu thẫn căn bản một cách hòa bình) mà chỉ muốn có hòa hợp.
   Trong khi phía Việt quốc thì muốn thực hiện “hòa giải và hòa hợp dân tộc” theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này. Nghĩa là hai bên phải bằng cách nào đó, cùng ngồi lại với nhau để hóa giải mâu thuẫn căn bản về lãnh đạo dân tộc. Đó là mâu thuẫn giữa những người cộng sản lãnh đạo dân tộc theo con đường độc tài toàn trị, độc đảng độc quyền thống trị, với những người quốc gia lãnh đạo dân tộc theo con đường dân chủ pháp trị, đa nguyên đa đảng. Đây chính là mâu thuẫn căn bản giữa Việt Quốc và Việt cộng và là nguyên nhân cơ bản làm phân hoá dân tộc.  Do đó “hoà giải và hoà hợp dân tộc” chính là giải quyết dứt khoát mâu thuẫn này một cách hoà bình để đi đến hoà hợp dân tộc toàn diện.
      Tựu chung hòa giải và hòa hợp dân tộc đến nay chưa thành tựu, dù đó là ước muốn chung của bất cứ người Việt Nam yêu nước nào,là vì vai trò chủ động công cuộc hòa giải và hòa hợp là phía Việt cộng đã xử dụng phương cách hòa giải và hòa hợp dân tộc không đúng với ý nghĩa chân chính của cụm từ này.
      Chính vì vậy mà phía Việt quốc đã không tin tưởng phía Việt cộng có thực tâm và thiện chí muốn hòa giải và hòa hợp dân tộc, nên thực tế đã quyết liệt chống đối điều mà họ gọi là “hòa giải và hòa hợp một chiều của Việt cộng”, hoặc coi đó chỉ là ngụy trang cho chủ trương “chiêu hồi Việt quốc của Việt cộng”. Chủ trương này chỉ muốn khơi động tình tự dân tộc để kêu gọi người Việt quốc gia hãy quên quá khứ, quên hận thù, thôi chống cộng cùng hợp tác với Việt cộng xây dựng và phát triển đất nước vẫn trong khung cảnh chế độ độc tài toàn trị cộng sản vốn là mâu thuẫn cơ bản.
     Nhưng chủ trương này đã bị cự tuyệt vì mục tiêu tối hậu của Việt quốc đấu tranh trong nhiều thập niên qua vẫn là nhằm thay thế chế độc độc tài toàn trị bằng một chế độ dân chủ pháp trị. Đây là một mâu thuẫn cơ bản đã đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ tại Việt Nam và là một mâu thẫn đối kháng (một mất một còn) giữa Việt quốc và việt cộng. Vì vậy “hòa giải và hòa hợp dân tộc” sở dĩ bao lâu nay chưa thành tựu là vì mâu thuẫn đối kháng này vẫn tồn tại. Do đó nhiều người Việt Nam tin tưởng rằng, một khi mâu thuẫn đối kháng trên được giải quyết dứt điểm,thỏa đáng. “hòa giải và hòa hợp dân tộc” thực sự sẽ đên ngay.
II/- PHƯƠNG CÁCH NÀO CÓ THỂ THÀNH TỰU HÒA GIẢI VÀ HÒA HỢP DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM?
       Vậy thì phương cách nào có thể thành tựu hòa giải và hòa hợp dân tộc tại Việt Nam?
     Theo nhận định của chúng tôi có hai phương cách thực hiện “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” là song phương hòa giải và đơn phương hóa giải mâu thuẫn căn bản để đi đến hòa hợp dân tộc.
     1.- Phương cách Song phương hòa giải mâu thuẫn để đi đến hòa hợp dân tộc.
    Theo phương cách này, đại diện hai bên Việt cộng và Việt quốc ngồi lại với nhau để cùng giải quyết mâu thuẫn căn bản.
     Trên thực tế trước đây đã có nhiều đề nghị, song đã không được quan tâm vì cả hai bên Việt cộng cũng như Việt quốc đều chưa có thực tâm,không tin tưởng vào thiện chí của nhau, nội bộ còn nhiều bất đồng, hai bên chưa thống nhất về phương cách nên không thể thực hiện  hòa giải và hòa hợp dân tộc theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này.(Như chúng tôi đã trình bầy ở trên).
   Đến nay, thực tế cho thấy phương cách này  vẫn không thể thực hiện được, ngay cả trường hợp phía Việt cộng có chính thức đưa ra chủ trương chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc, với lịch trình và các bước thực hiện cụ thể. Bởi phía Việt quốc vẫn khó chấp nhận được vì hai trở lực nội bộ không thể vượt qua: một là đa số Việt quốc vẫn không tin vào thực tâm hòa giải và hòa hợp dân tộc của Việt cộng do quá khứ có nhiều thất tín mà thất tín sau cùng là việc cưỡng chiếm Miền Nam (30-4-1975), vi phạm Hiệp Định Paris ngày 27-1- 1973, trong đó có đề cập đến việc thành lập “chính phủ hòa giải và hòa hợp dân tộc” gồm ba thành phần  . Hai là trong tình trạng phân tán đa dầu về tổ chức của Việt quốc, sự bất đồng về tư cách đại diện cho Việt quốc để tham dự hòa giải và hòa hợp dân tộc với Việt cộng là một thực tế khó vượt qua.
       Phương cách này  cá nhân chúng tôi đã thử đưa ra trong “Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam” vào Tháng 4-1995,khi mà đa số các nhà lãnh đạo hàng đầu của cuộc chiến tranh Quốc-Cộng còn sống, tư cách đại diện có thể dễ dàng được đồng thuận hơn.
    Theo giải pháp này, chúng tôi đề nghị các nhà lãnh đạo Việt Cộng và Việt Quốc cùng nhau thực hiện tiến trình hòa giải qua “Ba bước đến nền dân chủ nhất nguyên dân tộc”:
-        Bước một: Triệu tập “Hội Nghị Hóa Giải Mâu Thuẫn Về Lãnh Đạo Dân Tộc”
-        Bước Hai : Triệu tập “Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”
-        Bước Ba:  Hình thành “Chế Độ Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc”.
      Trong giải pháp này chúng tôi có đề nghị cụ thể  về thời gian, không gian, thành phân tham dự, nghị trình, trách nhiệm tổ chức và chi phi…
      Về thành phần tham dự  về phía Việt Quốc gồm các nhà lãnh đạo trong ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Về phía Việt Cộng gồm các nhà lãnh đạo có thẩm quyền trong cơ chế Đảng và Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).
     Về trách nhiệm tổ chức giao cho Thủ Tướng đương nhiệm chính phủ CHXHCNVN với chi phí do ngân sách quốc gia đài thọ…Tiếc rằng giải pháp đề nghị này đã không được các nhà lãnh đạo Việt cộng cũng như Việt quốc quan tâm.(1)
     Vì vậy, nay nếu có muốn dùng phương cách “Song phương hòa giải” cách nào đó cũng khó khả thi.Chúng tôi nghĩ đến một phương cách thứ hai   
2.- Phương cách đơn phương hóa giải mâu thuẫn để đi đến hòa hợp dân tộc.
     Đây là phương cách khả thi nếu đảng và nhà cầm quyền Việt cộng hiện nay thực tâm, có thiện chí muốn thành tựu “hòa giải và hòa hợp dân tộc”.
     Theo phương cách này, đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ cần đơn phương, chủ động, tích cực thực hiện tiến trình dân chủ hóa, điều mà thực tế Việt cộng đã và đang làm sau khi thực hiện chính sách “Đổi mới” thất bại (1986-1995) phải “mở cửa” (1995 – nay) thực hiện trên nguyên tắc “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(là giả), song thực tế diễn biến “kinh tế thị trường tất yếu định hướng tư bản chủ nghĩa” (là thật). Nay muốn hóa giải mâu thuẫn căn bản để có hòa hợp dân tộc, Việt cộng chỉ cần chủ động, đơn phương kết thúc qua trình dân chủ hóa đất nước vào thời điểm thích hợp, không gây  xáo trộn bất lợi cho đất nước.
    Phương cách này trước đây chúng tôi cũng đã từng đệ nghị các bước thực hiện như sau:
      1.- Quốc hội đương nhiệm sửa đổi Hiến pháp hiện hành, theo hướng dân chủ pháp trị,đa đảng.
     2.- Quốc hội cơ quan lập pháp đương nhiệm sau đó cần:
      - Làm luật tu chỉnh hoặc luật mới thay thế những luật lệ trái với Hiến pháp dân chủ pháp trị, đa đảng (Luật Đất Đai, Nhà đất,Luật Hình, Luật Hộ…)
      - Làm “Luật chính đảng” để cho phép các chính đảng được thành lập và tham gia sinh hoạt chính trị hợp pháp trong chế độ dân chủ đa đảng.
    - Làm“Luật ứng cử và bầu cử” vào các chức vụ dân cử để thực thị Hiến pháp dân chủ pháp trị,đa đảng.
      - Làm “Luật Hòa Giải Dân Tộc” nhằm hóa giải hận thù quá khứ, ngăn ngừa mọi hành vi phục thù chính trị trong tương lai do những nguyên nhân từ quá khứ.
         3.- Chính phủ, cơ quan hành pháp đương nhiệm chiếu nhiệm vụ qui định của Hiến pháp sửa đổi, bằng các văn bản lập qui dưới luật,để điều chỉnh theo các luật lệ  đã được Quốc Hội sửa đổi một cách phù hợp với thời gian, không gian và tiến trình  hoạt động bình thường của guồng máy công quyền quốc gia, để tránh mọi sự xáo trộn, bất ổn chính trị và xã hội, bất lợi cho đại cuộc.
       4.-Mọi cơ cấu tổ chức và nhân sự điều hành chính quyền các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương trên cả nước vẫn  duy trì nguyên trạng và hoạt động bình thường.
       5.- Ngưng bắt bớ giam cầm và thả tất cả các tù nhân chính trị để chứng tỏ thực tâm muốn “hòa giải và hòa hợp dân tộc” của đảng và nhà  cầm quyền đương thời tại Việt Nam
         Chúng tôi tin rằng nếu phía Việt cộng “Đơn phương, chủ động, tích cực hóa giải mâu thuẫn căn bản” theo phương cách này, ước mơ “ hòa giải và hòa hợp dân tộc” bao lâu nay của bất cứ người Việt Nam yêu nước nào sẽ thành tựu. Vì phía Việt quốc sẽ không còn lý do tiếp tục chống cộng hay chống hòa giải (kiểu Việt cộng) khi mà mục tiêu  tối hậu của chống cộng là tự do, dân chủ, nhân quyền cho đất nước đã thành đạt. Sau đó, việc hợp tác hay không hợp tác để xây dựng và phát triển đất nước trong khung cảnh chế độ tự do dân chủ là quyền tự do lựa chọn của cá nhân cũng như các đoàn thể chính trị Việt quốc,trong cũng như ngoài nước, không còn là vấn đề./.
Thiện Ý
Houston, ngày 5-5-2014
Ghi chú: (1) và (2) chi tiết các phương cách này xin vào:luatkhoavietnam.com, mục “Diễn Đàn”. Tiểu mục”Tác giả tác phẩm” để đọc  “ tài liệu nghiên cứu lý luận Việt Nam Trong Thế chiến Lược Quốc Tế Mớ”i, Chương II(Luận bàn về một một giải pháp toàn cuộc cho vấn đề tương lai dân tộc Việt Nam)và Tiểu mục “Đất nước- Cộng Đồng” để đọc “Đâu là giải pháp khả thi để cứu nước và phát triển toàn diện đất nước”.

Bạn đọc làm báo Khủng hoảng chính trị và tình trạng vô chính phủ ở Thái Lan sẽ đi về đâu?



Bạn đọc làm báo

Khủng hoảng chính trị và tình trạng vô chính phủ ở Thái Lan sẽ đi về đâu?

Nhân viên y tế xuống đường tuần hành ủng hộ người biểu tình chống chính phủ ở thủ đô Bangkok.
Nhân viên y tế xuống đường tuần hành ủng hộ người biểu tình chống chính phủ ở thủ đô Bangkok.
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

CỠ CHỮ
Khủng hoảng chính trị ở vương quốc Thái Lan đã kéo dài khoảng hơn hai tháng nay với các cuộc biểu tình của quần chúng dưới sự lãnh đạo của cựu Phó Thủ tướng Suthep Thaugsuban và hậu thuẫn ngầm của phe đối lập thiểu số tại Quốc hội Thái. Mục tiêu của các cuộc biểu tình rầm rộ này là nhằm lật đổ chính phủ của nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra thuộc đảng Vì Nước Thái (Puea Thai) chiếm đa số tại Quốc hội, bằng sức mạnh áp đảo của quần chúng, ngoài dự liệu của Hiến pháp Thái Lan.

Hiến Pháp Thái Lan năm 1932 thiết lập chế độ Quân chủ Lập hiến, nhà vua chỉ là biểu tượng và quyền lực chính trị hoàn toàn năm trong tay chính phủ.Theo Hiến pháp Thái Lan dự liệu thì sự thay đổi chính phủ phải thông qua các cuộc bầu cử các đại biểu nhân dân vào Quốc hội.Thủ lãnh phe đa số ở Quốc hội sẽ đứng ra thành lập chính phủ (Quốc hội chế hay Đại nghị chế tương tự như Vương quốc Anh).

Thế nhưng yêu sách của lãnh đạo các cuộc biểu tình Suthep Thaugsuban cho đến nay vẫn là đòi buộc nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra phải từ chức và giải tán nội các, trao quyền lại cho một hội đồng nhân dân gọi là Ủy ban cải cách dân chủ nhân dân (PDRC) không qua bầu cử, để thực hiện việc giám sát những cải tổ nhằm giảm bớt sự quyền lực áp đảo về chính trị của gia đình bà. Ông Suthep cho biết các cuộc biểu tình sẽ tiếp diễn tới khi bà Yingluck từ chức và một hội đồng không do bầu cử được thiết lập nhằm thế chỗ bà. Những cuộc biểu tình chống chính phủ kéo dài hơn hai tháng qua là  nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của bà và người anh trai Thaksin Shinawatra, cựu thủ tướng bị quân đội lật đổ trong cuộc đảo chính năm 2006 khi ông đang công du ở nước ngoài và sau đó bị tòa án xử khiếm diện kết tội tham nhũng và hiện vẫn đang sống lưu vong ở nước ngoài. Những cuộc biểu tình này được phe đối lập  khởi động khi Quốc hội Thái với đa số thuộc đảng cầm quyền của nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra đã thông qua một đạo luật mở đường trở về nước cho cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra.

Thực ra đây không phải là lần đầu tiên mới có sự thay đổi quyền lực chính trị ngoài dự liệu của hiến pháp. Vì trong quá khứ quân đội Thái Lan từng tổ chức 18 lần đảo chính trong 81 năm tồn tại của nền dân chủ (1932-2013) của một vương quốc này trong vùng Đông Nam Á, với khoảng 70 triệu dân và nền kinh tế phát triển cao trong vùng. Tuy nhiên lần này quân đội Thái vẫn đứng trung lập, còn các lực lượng cảnh sát theo lệnh Chính phủ của Thủ Tướng Yingluck Shinawatra chỉ giữ gìn an ninh trật tự, tự chế tránh đụng độ và không sử dụng vũ lực đối với người biểu tình dù bị khiêu khích. Đồng thời Thủ tướng Yingluck Shinawatra vẫn kiên nhẫn theo đuổi việc giải quyết cuộc khủng hoảng bằng đường lối thương lượng hòa bình để chuyển quyền theo Hiến pháp. Chẳng hạn bà đã giải tán Quốc hội và ra sắc lệnh tổ chức bầu cử vào ngày 2-2-2014 tới đây. Bà Yingluck mới đây, một lần nữa khẳng định không từ chức, rằng “Tôi đã nhấn mạnh rất nhiều lần rằng tôi có nghĩa vụ phải thực thi nhiệm vụ theo trách nhiệm của mình sau khi giải tán Quốc hội. Tôi muốn khẳng định lại rằng tôi không tham quyền cố vị nhưng tôi phải giữ ổn định chính trị. Tôi chỉ đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền dân chủ.”

Thế nhưng người cầm đầu phe chống chính phủ thuộc đảng Dân Chủ Thái Lan vẫn cự tuyệt, từ chối thương lượng với chính phủ để có thể dời ngày bầu cử đến tháng 5-2014. Sự từ chối này có thể là vì phe đối lập e ngại rằng cuộc bầu cử này sẽ không thay đổi được gì, khi đảng Vì Nước Thái của bà Yingluck vẫn có cơ hội chiếm đa số tại Quốc hội do vẫn được đa số cử tri, nhất là cử tri các vùng nông thôn, ủng hộ do các chính sách kinh tế xã hội của đảng này có lợi cho họ và tầng lớp nhân dân nghèo nơi các thành thị (lực lượng quần chúng Áo Đỏ). Chính vì vậy mà Suthep Thaugsuban, người lãnh đạo cao trào biểu tình (lực lượng quần chúng Áo Vàng) đã mạnh mẽ tuyên bố từ một sân khấu lộ thiên tại quận trung tâm thương mại của Bangkok rằng sẽ “bắt giữ” thủ tướng và các bộ trưởng trong nội các của bà “từng người một”, nếu họ không từ chức trong vòng vài ngày tới.
 
Để thực hiện yêu sách tối hậu này, người lãnh đạo biểu tình đã phát động chiến dịch phong tỏa thủ đô Bangkok do phong trào chống chính phủ tiến hành kể từ thứ Hai đầu tuần vừa qua (12/01/2014).Kế hoạch "Đóng cửa Bangkok" là một phần chiến dịch đòi chính phủ phải từ chức trước cuộc bầu cử ngày 2-2-2014. Những người biểu tình tìm cách phong tỏa các tuyến đường quan trọng và lập trại ở nhiều khu vực thuộc địa bàn thủ đô. Họ tuyên bố sẽ cắt nguồn cung điện và quyết không để cho các quan chức chính phủ làm việc. Cho đến nay, chiến dịch “đóng cửa” Bangkok của phe đối lập tại Thái Lan đã bước sang ngày thứ 5, và những vụ bạo lực xuất hiện ngày một nhiều làm người dân nước này không khỏi lo ngại rằng biểu tình kéo dài có thể dẫn đến xung đột bạo lực khiến nhiều người trở thành nạn nhân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội và nền kinh tế quốc gia.
   
Thái Lan thực sự đang trong tình trạng vô chính phủ khi mà phe đối lập muốn dùng sức mạnh quần chúng đông đảo (mặc dù vẫn là thiếu số so với khoảng 70 triệu nhân dân Thái) để giải tán chính phủ hợp pháp ngoài dự liệu Hiến pháp. Người lãnh đạo phong trào biểu tình, Suthep Thaugsuban, đã nói với đám đông rằng  "Trong hai hoặc ba ngày tới, chúng ta phải đóng cửa chính phủ"; và rằng "Nếu không được, chúng ta sẽ bắt thủ tướng và các bộ trưởng. Chúng ta sẽ bắt đầu cắt điện nước ở nhà của họ. Tôi khuyên họ hãy sơ tán con cái của mình". Trong khi quyền lực của chính phủ của Thủ tướng Yingluck bị đám đông biểu tình coi thường…

Trong khi đó, Quân Đội Thái theo lý là đưới quyền thủ tướng thì bất động và trong tương lai có lẽ chỉ tự động can thiệp khi tình thế bắt buộc để giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị đi vào bế tắc. Các lực lượng cảnh sát thuộc quyền điều động của chính phủ, nay dường như cũng không muốn thi hành lệnh của thủ tướng bắt giam người lãnh đạo cuộc biều tình Suthep Thaugsuban, vì cho rằng có liên quan đến hoạt động chiếm đóng các bộ của chính phủ là phạm pháp, cũng như một cáo buộc giết người có liên quan đến cuộc trấn áp quân sự đối với người biểu tình đối lập vào năm năm 2010 khi ông này còn là phó thủ tướng, khiến hàng chục người thiệt mạng.
  
Vậy tình trạng vô chính phủ hiện nay sẽ đưa cuộc khủng hỏang chính trị ở Thái Lan đi về đâu?

Theo nhận định của người viết thì cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay chỉ có thể chấm dứt trong hai chiều hướng:
  
Một là phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng theo Hiến pháp của Thủ tướng Yingluck thành công khi được quân đội hậu thuẫn. Nghĩa là lệnh bắt giam những người lãnh đạo các cuộc biểu tình vì các hoạt động chống chính phủ vượt quá quyền dân chủ, vi phạm luật pháp quốc gia được thi hành hiệu quả, với sự đồng tình của quân đội, các cuộc biểu tình tự tan rã, cuộc bầu cử Quốc hội mới ngày 2-2 tới đây sẽ diễn ra và kết thúc tốt đẹp, đảng nào chiếm đa số tại quốc hội sẽ thành lập chính phủ mới, sự ổn định chính trị được tái lập và vận hành bình thường trở lại theo Hiến pháp.
 
Hai là phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng theo Hiến pháp của Thủ tướng Yingluck thất bại, khi không được quân đội hậu thuẫn. Trong chiều hướng này Quân đội Thái Lan theo tiền lệ, lại một lần nữa phải can thiệp để tái ổn định tình hình. Nếu điều này xảy ra, thì trong 81 năm qua, với 18 lần làm đảo chánh, lần thứ 19 này có lẽ là lần đầu tiên Quân đội Thái Lan phải làm một cuộc “đảo chánh bất đắc dĩ”, chẳng đặng đừng  phải can thiệp khi tình thế bắt buộc để chấm dứt cuộc khủng hoàng chính trị kéo dài hơn hai tháng quá đã đi vào bế tắc, hầu sớm chấm dứt tác hại nhiều mặt cho nhân dân và đất nước Thái Lan của mình.

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.   

Thiện Ý

Thiện Ý nguyên luật sư tại Sài Gòn trước 1975, hiện là Chủ tịch Câu Lạc bộ Luật khoa Việt Nam ở Houston.
Ý kiến
     
bởi: Phan Bảo Lâm từ: TpHCM
27.01.2014 06:42
Khủng hoảng chính trị ở Thái lan có liên quan đến vấn đề dân chủ. Ý thức dân chủ là "thiểu số phục tùng đa số" nhưng ở Thái thì không có ý thức đó. Nhìn tấm hình ở trên có thể thấy là người biểu tình khá "vui vẻ". Nói trắng ra, họ đi biểu tình không phải để đòi hỏi quyền lợi mà là để "nhận tiền thuê đi biểu tình".

Suy diễn. 1 nhóm lợi ích nào đấy ủng hộ 1 đảng nào đấy. Đảng nào đấy có 1 vị đảng viên đang làm chức "nghị sỹ phe đối lập". Chính sách của thủ tướng đương nhiệm làm thiệt hại lợi ích của nhóm lợi ích ấy. Tất yếu là, nghị sỹ phe đối lập lên tiếng đòi thủ tướng từ chức, còn nhóm lợi ích ấy thì "khuyến khích" người làm công của họ đi biểu tình (mà vẫn được hưởng lương bình thường) để gây áp lực xã hội.

Cái này gọi là "dân chủ đa đảng nguyên thủy". Ở các nước Anh, Pháp, Mỹ vẫn xảy ra tình trạng tương tự nhưng tinh vi hơn gọi là "dân chủ đa đảng hiện đại". Theo đó, nhóm lợi ích cắt giảm lương và chỗ làm rồi giải thích là họ bị thiệt hại vì đạo luật xyz gì đó do đảng đối lập cầm quyền ban hành. Người lao động cứ thế chờ đến ngày bầu cử mà "hạ cái đảng ấy xuống". Đó là lý do giải thích vì sao chính phủ Mỹ (bất kể do đảng nào cầm quyền) cực kỳ quan tâm đến chỉ số % số chỗ làm tăng lên hay giảm đi.

Mỗi 1 cái đạo luật được quốc hội phê chuẩn luôn làm lợi cho người này và làm thiệt hại người khác. Vấn đề là người được lợi chiếm đa số hay thiểu số. Nếu thiểu số được lợi mà đảng cầm quyền vẫn không "đổ" thì tình trạng dân chủ của nước đó chính là .....(!)

Kẻ nắm quyền lực chính trị (và kinh tế) ở Thái trước thế kỷ 21 là các tướng lĩnh quân đội. Mỗi đảng của Thái do 1 ông tướng làm hậu thuẫn. Không thỏa thuận được với nhau bằng nghị trường thì đảo chính quân sự, đơn giản thế thôi. Đầu thế kỷ 21, Thái lan đột nhiên xuất hiện 1 đảng mới không có quân đội làm hậu thuẫn và đảng này liên tiếp đắc cử trong 2 cuộc bầu cử. Nhiệm kỳ trước, ông thủ tướng "dân sự" này bị quân đội đảo chính. Nhiệm kỳ này, con gái của ông ta, bà đương kim thủ tướng đang bị (quân đội) "đe dọa" truất phế thậm chí còn đe dọa trấn áp con cái của các quan chức phe cầm quyền. Dân chủ đến thế là cùng, y hệt giọng điệu của các chú VNCH lưu vong.

Nhiều người VN chắc hẳn là mơ ước cái nền dân chủ đa đảng nguyên thủy này ? Yên tâm, sẽ có. Nếu ví đảng CS VN như lực lượng quân đội ở Thái, đứng phía sau lũng đoạn chính trị, thì điều kiện ở VN chưa "chín mùi". Chừng nào mà tầng lớp "tư bản đỏ" ở VN chiếm 99% tài lực quốc gia, chừng đó VN sẽ có nền dân chủ đa đảng giống như Thái lan, Campuchia, Indonesia, Philippines, Myanma và VN sẽ có vô số quyền dân chủ, trong đó có cả quyền "thiểu số chống đối và đe dọa đa số". Vì sao nói chắc chắn như thế ? Rất đơn giản. 1 đảng không thể nào thỏa mãn lợi ích của toàn bộ các chú "tư bản đỏ" cùng 1 lúc được vì đạo luật (chính sách nhà nước) luôn luôn và bao giờ cũng làm lợi cho kẻ này và thiệt hại kẻ khác. Tất yếu sẽ hình thành nhiều đảng đại diện cho nhiều nhóm "tư bản đỏ" khác nhau.

Quá trình chiếm hữu 99% tài lực quốc gia này gọi là "kinh tế thị trường định hướng XHCN". Khi quá trình này kết thúc, VN sẽ có dân chủ đa đảng (sướng nhé) và 99% người VN sẽ trở thành "phe áo đỏ" với chính phủ do họ bầu ra có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào bằng những cách thức "phi dân chủ" mà ta đang thấy ở Thái lan.

bởi: Thu Nguyen từ: VA , USA
27.01.2014 04:46
Nếu bà Thủ tướng Thái lan bi, quân đội lật đổ thì rõ ràng quân đội Thaí là một đám quân phiệt trá hình qua 19 lần làm đảo chính để triệt tiêu thể chế dân chủ, tiến đến thể chế CÔN ĐỒ CHỦ .
Thể chế dân chủ Thái lan đã và đang tạo nên một sỉ nhục to lớn cho hơn 90% các Quốc gia theo thể chế dân chủ trên toàn thế giới qua các hình thức: Tổng thống chế, Đại nghị chế hay Quân chủ lập hiến...
Bà Thủ tướng Thái lan do dân gián tiếp bầu lên như là Thủ tướng Anh, Thủ tướng Úc, Thủ tướng Canada...tương đương là một Tổng thống do dân trực tiếp bầu lên trong chế độ Tổng thống chế; ấy vậy ma`tên côn đồ Suthep cùng đồng bọn đòi bắt nhốt hết từ bộ trưởng đến cả Thủ tướng do dân bầu lên hoàn toàn hợp pháp và hợp hiến .
Bà Thủ tướng Thái đã nhượng bộ đến cùng cực, chỉ còn giữ vai trò Thủ tướng tạm thời để điều hành chánh phủ, tổ chức bầu cử lại, vậy mà vẫn bị bọn côn đồ từ chối vì biết chắc sẽ không thắng cử . Bọn nầy không có tư cách gi ngoài tư cách côn đồ, tiếc thay các Quốc gia dân chủ trên thế giới chỉ ỡm ờ cho có lệ
Phải chăng thể chế dân chủ trên toàn thế giới đang bị lung lay, không đủ chính nghĩa để lên tiếng làm áp lực đòi hỏi quân đội Thái lan phải có trách nhiệm thực thi quyền dân chủ của toàn dân Thái . Một việc làm chính đáng như vậy mà không hó hé thì kêu gọi nhân quyền với dân chủ, người dân nào dám đấu tranh ??? Tạo điều kiện cho độc tài Cộng sản đưa ra làm ví dụ điển hình .

bởi: lão khờ từ: cờhoa
26.01.2014 19:59
Chính phủ Thái nên hành xử đúng theo những gì hiến pháp qui định
để tái lập và duy trì an ninh trật tự thủ đô Bangkok.Mọi việc không
thông qua bầu cử như hiến pháp qui định là phạm pháp.Mọi họat
động gây rối an ninh trật tự công cộng làm ảnh hưởng đến đời sống dân chúng phải lập tức chấm dứt và ngăn chận và trừng phạt theo đúng hiến pháp và luật pháp .

bởi: TRẦN CÔNG LÝ từ: SG-VN
26.01.2014 15:48
Sự kiện nầy, sẽ không bao giờ xảy ra tại VN. Vì sao?
Xin thưa: bản chất người Thái từ chính quyền và đảng phái vẫn là hiền hậu. Đảng Cộng VN hoàn toàn khác.
Đảng CS VN sẽ không bao giờ nhát tay súng với cái gọi là "những kẻ lợi dụng dân chủ gây mất ổn định trật tự, phá hoại an ninh quốc gia", nhất là "chống đảng CS toàn trị đương nhiên là phải chết" theo Bộ luật hình sự của Nhà nước CSVN.
Một đêm tối trời, từ 1 giờ khuya đến 3 giờ 30 sáng, côn an, cảnh sát cơ động, quân đội nhân dân, trang bị tận răng, có xe tăng yểm trợ với súng máy hãm thanh và hằng loạt xe vòi rồng ((để rửa sạch các vết máu) với xe thùng cũa Sở vệ sinh (để chở xác người) sẽ xơi tái hết đám biểu tình. Các đầu sỏ đối lập sẽ vĩnh viễn biến mất trong một đêm.
Không một phóng viên báo chí nào bén mảng tới khu cấm địa. Không một tin tức nào được báo chí đăng tải!!!
Phóng viên nhà báo ngoại quốc thì đừng hòng!!! Cùng lúc, an ninh mật vụ, buổi chiều trước đó đã đón lõng tại khu ở của các lãnh đạo biểu tình và cho lên xe, tới một nơi bí mật, gia đình không được biết. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Một chiến dịch "xóa sạch, hốt ổ đám biểu tình" có sự phối hợp tuyệt vời của bộ máy Đảng - Chính quyền-Côn an - Quân đội. Thế là xong!!!??? Đây gọi là dân chủ tập trung XHCN.
Một kịch bản tái hiện Thiên An Môn kiểu Tàu tại Việt Nam và thế là "Mission accomplied". Thế giới có biết thì việc đã trót lọt.
Pháp quyền và dân chủ XNCN tại VN dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng là thế đó. Gấp hàng triệu lần chế độ tư bản - theo lời PCT Nước Nguyễn Thị Doan.
Có đâu mà ngo ngoe gây rối như tại Thái Lan.

bởi: Tran binh
26.01.2014 04:25
Căn nguyên sâu xa là sự xung đột giữa vua thai lan và gia đình thatsin, vì vậy 1 trong hai bên bi tiêu diệt thì xung đột mới kết thúc. Phe áo vàng có thể làm gì nếu không có sự hậu thẫn của vua.

bởi: Vô danh từ: USA
25.01.2014 07:43
cách ổn định duy nhất cho người dân phải có một chế độ độc đảng còn cứ gân chủ kiểu này ổn định xã hội chỉ đi trong mơ,thực chất chỉ là tranh giành quyền lực giữa các phe phái chẳng phải vì đất nước vì người dân gì đâu.chính phủ thái nên học kinh nghiệm của việt nam.

bởi: Nam từ: USA
23.01.2014 20:45
Dân tộc Thái đã hiểu được mưu đồ của gia đình Yingluck Shinawatra nên họ đứng lên lật đổ chế độ mị dân này,mặc dù bề ngoài,đa số cho là không tôn trọng hiến pháp Thái.Gia đình Shinawatra đã dùng tiền dụ dân nghèo để có sự ủng hộ,như bọn csvn dụ dân miền quê để nắm chánh quyền,sau đó bắt dân quê VN làm nô lệ như đã chứng minh hằng ngày trên đất nước VN.Dân Thái họ anh hùng hơn,khôn hơn không để cho gia đình Shinawatra cầm quyền và đến khi cầm được quân đội thì lúc đó quá trể để lật đổ gia đình này.Đó là lý do,quân đội Thái vẫn chưa động tịnh vì họ chỉ chờ bà Thủ Tướng ra lịnh đàn áp dân Thái là họ vào cuộc lât đổ gia đinh Shinawatra.Nếu quân đội Thái thấy những người biểu tình sai là họ đã dẹp từ lâu.Quân đội Thái cũng thấy đường lối của gia đình Shiwanatra thân Tàu sẽ là mối nguy hiễm cho đất nước Thái sau này như tình hình ở VN hoàn toàn lệ thuộc vào tàu cộng,không bao giờ ngóc đầu lên nổi và kế tiếp là mất nước nay mai.

bởi: Văn tiến Đạt từ: VN
23.01.2014 13:54
Dân chủ mà thiểu số không phục tùng đa số,thì mất ổn định.,Đa sốmà thiếu công bằng ( gian lận,quyền lực),cũng mất ổn định .
Thật khó khăn để thực hiện dân chủ tại các nước vẫn còn kém mở mang ( dân trí )

bởi: vo danh
22.01.2014 17:54
Su kien Thai lan xay ra la mot bai hoc cho VN trong tuong lai neu co da dang, dau phai da dang la tuyet doi dung, no co nhung cai rac roi be tac, nguoi dan da co y lam sai hien phap , ke thu lanh xui duc nguoi dan be cong hien phap ma chinh phu khong co bien phap manh me.

bởi: Phu Nguyen từ: FL
22.01.2014 07:47
Quân đội Hoàng Gia Thái dường như có vấn đề chia rẽ nội bộ?
Quân đội đã đảo chánh chính phủ 18 lần trong khoảng thời gian 80 năm. Lần đảo chánh cuối lật đổ chính phủ Thaskin, anh của TT Yingluck, xảy ra vào năm 2006. Tư lệnh quân đội, một vị tướng bộ binh đã cố gắng giữ trung lập nhưng khẳng định một cuộc đảo chánh nữa cũng có thể xảy ra, và kêu gọi kềm chế bạo động của các đảng phái.

Theo tin tức và những hình ảnh biểu tình trong hai tháng qua, quyền xử lý TT tạm thời, bà Yingluck đã dùng bộ tư lệnh Không Quân Thái để hội họp và làm việc trong khi phe biểu tình chiếm đóng dinh TT. Bà Yingluck cũng được chụp hình chung với các tướng lảnh Không Quân. Lệnh tình trạng báo động khu vực Bankok đã bắt đầu có hiệu lực, nhưng quân đội không được dùng để giữ an ninh như thường lệ và lệnh giới nghiêm chưa dám quyết định. Lực lượng cảnh sát sẽ được dùng để hậu thuẫn chính phủ. Phe áo đỏ đảng Pheu Thai tuyên bố sẽ chiến đấu nếu quân đội đảo chánh.

Tin mới nhất, một thủ lãnh áo đỏ phe ủng hộ chính phủ, ông Kwanchai Praipana bị bắn trọng thương phải nhập viện hôm qua.

bởi: cam ranh từ: sai gon
22.01.2014 00:19
Nhân quyền và tự do ngôn luận là như thế này ư?
Trả lời
bởi: Thiếu Jia
26.01.2014 18:56
Nhân quyền và tự do ngôn luận mới...xiu xìu thế này. Chứ mà giải phóng dân tộc lên tầng cao XHCN giàu đẹp thì cứ gọi là trời long đất lở, "xương tan máu rơi lòng hận thù ngất trời" mấy chục năm, chết mấy triệu người cũng chẳng ngại. Dù ai treo giải bèo "16 tốt, 4 vàng" cũng vẫn làm.
Trả lời
bởi: Vaméri từ: US
26.01.2014 18:13
Người Cộng Sản rặc không hề tin tưởng vào đời sống dân chủ tự do, với họ chỉ có độc tài độc đảng mới đúng, mới tốt.
Ngược lại, người dân chủ tự do không thể tin tưởng và không hề thích thú lý thuyết Cộng Sản, không chấp nhận lối sống công an trị của Cộng Sản.
Tại vậy mà vịnh Cam Ranh chỉ có thể giao cho Nga chứ không thể giao cho Mỹ. Chỉ có Nga nhận Cam Ranh chứ Mỹ không nhận Cam Ranh vì Mỹ không thể sống chung với Cộng Sản, nơi nhân quyền và tự do ngôn luận bị Cộng Sản tước đoạt.
Trả lời
bởi: Vô danh từ: bangkok
26.01.2014 04:40
sao bà thủ tướng kô đến việt nam mà học chính trị

bởi: Hoàng Kiến Đức từ: Bình dương
21.01.2014 17:56
không nơi nào như Thái kẻ làm loạn thì không ai làm gì ,kẻ thiểu số thì muốn vi phạm hiến pháp vẫn ngạo mạn,tội cho người dân nghèo chỉ biết nhìn mà không nói gì , người dân nghèo nên làm cách mạng xóa chế độ và bắt thằng Suthep đưa thủ tướng lên làm tổng thống

Nhận định: ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN LÊ HIẾU ĐẰNG ĐÃ PHẢN TỈNH THẬT HAY CHỈ LÀ CÒ MỒI CHO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM?



Nhận định:
ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN LÊ HIẾU ĐẰNG ĐÃ PHẢN TỈNH THẬT HAY CHỈ LÀ CÒ MỒI CHO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM?

Thiện Ý.

         Tôi đã đọc kỹ bài “Viết trong những ngày nằm bịnh” của đồng môn cựu sinh viên luật khoa Lê Hiếu Đằng,một đảng viên cộng sản, được đăng tải trên trang Web của Beauxit Việt Nam và sau đó được phát tán rộng rãi trên mạng internet toàn cầu.
      Nội dung bài viết đảng viên CS Lê Hiếu Đằng đã đưa ra những nhận thức lại quá khứ về mình, về đảng và chế độ Việt cộng sau 45 năm vào “Đảng”, theo “Đảng” nhưng đã không thực hiện được mục tiêu lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà một thời tuổi trẻ Lê Hiếu Đằng đã hăng say lao vào. Trái lại, sau nhiều thập niên độc quyền thống trị đất nước, áp đặt một chế độ độc tài toàn trị cộng sản chủ nghĩa, trái với ý muốn của nhân dân,  “Đảng ta” đã làm băng hoại niềm tin của nhân dân và của chính các đảng viên cộng sản và làm suy đồi toàn diện đất nước.
     Từ nhận thức về quá khứ và nhờ thực tiễn suy đồi toàn diện 38 năm qua, đảng viên CS Lê Hiếu Đằng đã “Phản tỉnh” và  công khai nói lên sự “phản tỉnh”,bất bình, phẫn nộ,đôi chút hối tiếc của mình (vì bị “Đảng” phỉnh gạt, phản bội lý tưởng). Nhìn đến tương lai, CSVLK Lê Hiếu Đằng đã công khai bầy tỏ lập trường, thái độ chọn lựa dứt khoát về những vấn đề căn bản của Đất nước (Vấn đề đa nguyên, đa đảng, vấn đề độc lập, dân chủ ,tự do hạnh phúc…). Đồng thời cá nhân Lê Hiếu Đằng đã hạ quyết tâm phải làm cái gì khác hơn trong những năm tháng còn lại của cuộc đời (gần đất xa trời), bất chấp mọi hậu quả. Cái khác hơn đó là đề nghị, kêu gọi mọi người, nhất là những người “đồng chí” trước đây cùng tham gia “Phong trào sinh viên, học sinh đấu tranh chống Mỹ-Thiệu” dưới sự lãnh đạo của “Đảng ta”,  đã đến lúc cần can đảm công khai “phản tỉnh” (đừng giấu mặt nữa), để quy tụ thành một lực lượng chính trị đối trọng và đối lập xây dựng  với đảng Cộng sản Việt Nam, tạo tiền đề sớm hình thành “chế độ đa nguyên, đa đảng, dân chủ pháp trị” thay thế “chế độ nhất nguyên, độc đảng, độc tài toàn trị” hiện nay, đề xây dựng, phát triển toàn diện đất nước và bảo vệ Tổ Quốc trước hiểm họa ngoại xâm.Một cách cụ thể, đảng viên CS phản tỉnh Lê Hiếu Đằng để nghị hình thành một đảng chính trị đối lập lấy tên là “Đảng Dân Chủ Xã Hội” chẳng hạn.
     Trong mấy tuần qua công luận trong và ngoài nước đã quan tâm đặc biệt đến bài “Viết trong những ngày nằm bịnh” của đảng viên CS Lê Hiếu Đằng. Đã có hai luồng dư luận trái ngược: người tin thì cho rằng đảng viên cộng sản Lê Hiếu Đằng “Phản tỉnh thật”; người không tin thì nghi ngờ rằng “phản tỉnh giả”, làm “cò mồi” theo chỉ thị ngầm của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN).
     Theo nhận định của chúng tôi thì dù đảng viên cộng sản Lê Hiếu Đằng “Phản tỉnh thật” hay “Phản tỉnh giả” đều có lợi cho công cuộc chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước của chúng ta. Vì vậy, những ai là người Việt quốc gia chân chính mà quá đa nghi cần cảnh giác để không tiếp tay cho “Đặc tình truyền thông Việt cộng”, mỗi khi thấy một đảng viên phản tỉnh chậy về phía quốc gia, dân tộc,thường “tương kế tựu kế” tạo sự nghi ngờ để bị cô lập,tẩy chay, hầu giảm thiểu hay vô hiệu hóa những bất lợi do sự “phản tỉnh của đồng chí mình” gây ra. Đây là thủ đoạn Việt cộng từng làm trong quá khứ (điển hình như với cựu đảng viên CS Bùi Tín hiện ở Pháp, Nguyễn Cần ở Nga và nhiều nhiều người khác…bị nghi ngờ và bị “đánh” dài dài chưa dứt…) sẽ tiếp tục làm cho đến khi Việt cộng bị tiêu vong hoàn toàn.
    Phần chúng tôi thì tin là đảng viên cộng sản Lê Hiếu Đằng “Phản tỉnh thật” (cũng như rất đông đảng viên cộng sản khác đã phản tình nhưng còn giấu mặt…). Sự tin tưởng của chúng tôi căn cứ trên:
   1.- Chiều hướng suy tàn của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn cầu đã là tất yếu (không thể khác, không thể đảo ngược), với thực tế là sự sụp đổ chế độ cộng sản thiết lập đầu tiên là Liên Xô (Liên bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô-Viết mà Việt cộng từng coi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của mình), kéo theo sự tan rã hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, nay chỉ còn sót lại 4 nước trong đó có Việt Nam, chỉ còn đeo cái vỏ “xã hội chủ nghĩa” (Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), còn  cái ruột đã dần dần biến thể trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường” qua “Tư bản chủ nghĩa” (mà chúng tôi thường gọi nôm na là chế độ “đỏ vỏ, xanh lòng” hay kiểu “treo đầu dê bán thịt chó” của gian thương).
   2.- Tình hình thực tế tại Việt Nam đã biến chuyển ngày một rõ nét theo chiều hướng phát triển tất yếu của chiến lược tòan cầu mới: Toàn cầu hóa về chính trị (dân chủ hoá các hế độ độc tài các kiểu) song song với thị trường tự do hóa các nền kinh tế chỉ huy hoạch định cứng rắn (giải tư các xí nghiệp quốc doanh, chấp nhận nhiều thanh phần kinh tế cạnh tranh…).
     Thực tế là, đảng Cộng sản Việt Nam đã phải trả lại một số quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền căn bản cho nhân dân. Nhân dân không còn “Sợ” Đảng và chính quyền Việt cộng như trước đây. Trên thực tế, từ nhiều năm qua, nhân dân đã giám xuống đường đấu tranh đòi các quyền lợi hợp pháp chính đáng của mình. Nhà cầm quyền đã và đang tiếp tục lùi dần về phía dân chủ dưới áp lực quốc tế và lực đẩy, lực xoay của các cuộc đầu tranh đòi tự do, dân chủ và nhân quyền của nhân dân trong nước và quốc dân Việt Nam khắp nơi ở hải ngoại.
   3.- Đối với cá nhân đảng viên CS Lê Hiếu Đằng, là một đồng môn cựu sinh viên Đại học Luật khoa Sài gòn. Trong quá khứ, Lê Hiếu Đằng từng được hấp thụ những kiến thức luật học  theo ý thức hệ dân chủ Phương Tây, từng sống trong chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đã đi theo Việt cộng vì đã nhận thức, đánh giá sai lầm về chế độ và xã hội Miền Nam, khi không thấy chế độ độc tài đảng trị và xã hội “Xã hội chủ nghĩa” Miền Bắc tồi tệ hơn nhiều; lại không phân biệt được thực chất và ý nghĩa của cuộc chiến chống thực dân Pháp trước năm 1954 (chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc) hoàn toàn khác với cuộc chiến tranh Quốc–Cộng sau này (Nội chiến ý thức hệ, cả hai chính quyền của hai chế độ Bắc-Nam đều là công cụ chiến lược của ngoại bang).
      Giờ đây, sau 38 năm Việt cộng cưỡng chiếm được Miền Nam, xây dựng “Xã hội chủ nghĩa” trên cả nước, đảng viên cộng sản Lê Hiếu Đằng đã có đủ dữ kiện thời gian, không gian để “phản tỉnh thật”,như  anh  đã mở đấu bài “Viết trong những ngày nằm bịnh”:
 “Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng, thôi thúc tôi phải “thanh toán”, “tính sổ” lại tất cả.”
     Trong bài ““Viết trong những ngày nằm bịnh”, tại điểm 1 (Vì sao tôi đi kháng chiến, vào ĐCS Việt Nam?)  Lê Hiếu Đằng đã tự biện minh cho sự lầm lạc đi theo Việt cộng của  mình (cũng như phần đông những người tuổi trẻ cùng thời đã đi theo Việt cộng) là vì “Bạn bè tôi và bản thân tôi cũng bị thôi thúc bởi những tình cảm đó: lòng yêu nước, ý chí chống xâm lược, giành độc lập tự do dân chủ cho Tổ quốc để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ ở đó công nhân, nông dân, người lao động, những người hi sinh nhiều trong chiến tranh có cuộc sống ấm no, hạnh phúc đã thôi thúc chúng tôi lên đường…”.
     Tôi biết nhưng không quen CSVLK Lê Hiếu Đằng vì chưa một lần tiếp xúc với anh. Thế nhưng tôi tin lời biên bạch cho sự lầm lạc theo Việt cộng của CSVLK Lê Hiếu Đằng (cũng như nhiều sinh viên khác) là thật và anh cũng “Phản tỉnh thật”.
    Trước 30-4-1975, tôi không quen, nhưng biết CSVLK Lê Hiếu Đằng là một trong những sinh viên đã hoạt động nằm vùng cho Việt Cộng. Tại Trường Luật Sài Gòn, ngoài CSVLK Lê Hiếu Đằng, một số CSVLK nằm vùng khác như:  Triệu Quốc Mạnh- Nguyễn Đăng Trừng - Nguyễn Đăng Liêm – Đỗ Hữu Cảnh – Trịnh Đình Ban - Đinh Viết Tứ - Hồ Hùng Vân – Nguyễn Long Hội, Tăng Thị Nga… Đó là những đồng môn mà chúng tôi quen biết hay có người chỉ biết mà không quen, theo nghĩa chỉ nghe biết về họ mà chưa một lần trực tiếp gặp gỡ trao đổi…(Có dịp chúng tôi sẽ viết những gì chúng tôi biết về họ).
     Tất cả những sinh viên nằm vùng cho Việt Cộng ở Trường Luật hay các phân khoa khác trước đây, sở dĩ hoạt động được là nhờ “Vỏ bọc sinh viên quốc gia” có thế hợp pháp, trong khung cảnh chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, dù mới hình thành còn nhiều bất hoàn và xã hội còn nhiều bất công. Thế nhưng, dù trong tình trạng đang có chiến tranh, các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền căn bản vẫn được tôn trọng, bảo vệ và hành xử. Do đó, CSVLK Lê Hiếu Đằng (cũng như các sinh viên nằm vùng khác) mới có thể “ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, lợi dụng thế hợp pháp hoạt động công khai trong Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và Ban Đại Diên Luật Khoa, phát động các cuộc xuống đường chống chính phủ VNCH, theo sự chỉ đạo của Việt cộng.
       Năm 1968 Lê Hiếu Đằng đã tham gia “Liên Minh các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam”, với luật sư Trịnh ĐìnhThảo làm Chủ tịch, Lê Hiếu Đằng Phó Tổng Thư Ký. Đây là một tổ chức do Việt cộng dựng lên để hổ trợ về mặt chính trị cho cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”. Vì tham gia Liên Minh này, CSVLK Lê Hiếu Đằng và một số cựu sinh viên luật khoa nằm vùng khác như Nguyễn Đăng Trừng, Tăng Thị Nga… và nhiều sinh viên nằm vùng ở các phân khoa khác đã lộ mặt nên phải trốn chậy vào bưng, sau khi làm cuộc Tổng Tiến Công mà không thấy nhân dân nổi dậy ( mà chỉ thấy nhân dân bỏ chậy khi VC đến) nên đã bị thảm bại.
     Sau 30-4-1975, đảng viên Lê Hiếu Đằng được Đảng và Chính quyền Việt cộng cho công tác trong Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố HCM (Phó Chủ tịch Mặt Trận), một tổ chức ngoại vi của đảng CSVN. Trong những ngay tháng năm đầu sau “Giải phóng”, một số sinh viên luật khoa nằm vùng khác thì được công tác trong ngành công an (công cụ bảo vệ nền chính vô sản) như Nguyễn Đăng Trừng, Nguyễn Đăng Liêm, Đỗ Hữu Cảnh, Đinh Viết Tứ …
      Theo chỗ chúng tôi được biết thì chỉ một vài năm sau ngày “Giải phóng” (?!?),đảng viên cộng sản Lê Hiếu Đằng (cũng như phần đông những sinh viên lỡ đi theo Việt cộng) đã “phản tỉnh” rất sớm, nhưng phải dấu mặt cho đến hôm nay mới giám “phản tỉnh công khai” (phần đông còn dấu mặt). Tất cả vì đã lỡ “nhúng tay vào tràm”, vì sợ bộ máy “Chuyên chính vô sản” trấn áp, nghiền nát; vì sợ mất các ưu quyền đặc lợi mà chế độ mới dành cho bản thân, gia đình cán bộ đảng viên cộng sản cũng có…nên tất cả đành phải “ngậm miệng ăn tiền”.
        Tôi biết sự “Phản tỉnh” rất sớm của CSVLK Lê Hiếu Đằng, qua hiện tượng một số người dân mách bảo cho nhau biết khi gặp khó khăn, áp bức, bất công gì hãy tìm gặp “Ông Lê Hiếu Đằng bên Mặt Trận”nhờ can thiệp. Môt vài người sau khi gặp “Phó Chủ Tịch Mặt Trận Thành Phố Lê Hiếu Đằng” đã kể lại cho tôi nghe về thái độ, lời nói khi tiếp xúc với những người dân chậy đến nhờ “can thiệp”, đã  thể hiện sự bất mãn, tức giận những  việc làm sai trái, ức hiếp nhân dân  của các viên chức chính quyền các ngành, các cấp. Mặc dầu “phản tỉnh” rất sớm, đảng viên CS Lê Hiếu Đằng vẫn chỉ giám bầy tỏ thái độ và hành động phản kháng tiêu cực, vẫn tiếp tục nằm trong guồng máy đảng và Nhà nước Việt cộng và chỉ rời bỏ nó khoảng 4 năm trước đây (2009-2013) khi đến tuổi về hưu, không còn quyền lực gì trong tay. Trong những năm tháng gần đây, tình thế đất nước thay đổi ngày càng bất lợi cho Đảng và chế độ Việt cộng, Lê Hiếu Đằng mới giám  tham gia cao trào đấu tranh của quần chúng đòi các quyền dân sinh, dân chủ, nhân quyền và chống Tầu cộng xâm lược.
      Giờ đây, sau thời gian nằm bịnh, suy nghĩ lại quá khứ, ở tuổi ngoài “Thất thập cổ lai hy” ,đảng viên CS Lê Hiếu Đằng mới giám “Phản tỉnh công khai” và bầy tỏ thái độ hành động phản kháng chế độ quyết liệt như thế. Dẫu sao trễ còn hơn không và tuy “trễ” nhưng “chưa muộn” . Tuy nhiên, nhân dân trong nước và quốc dân Việt Nam ở hải ngoại vẫn đang chờ những hành động cụ thể tiếp theo có lợi cho dân cho nước, để không còn ai nghi ngờ đảng viên CS Lê Hiếu Đằng “phản tỉnh giả”, làm “cò mồi” theo chỉ thị ngầm của đảng Cộng sản Việt Nam nữa.
      Dẫu sao, quốc dân Việt Nam trong và ngoài nước cũng nên thông cảm và cho cơ hội để đảng viên CS Lê Hiếu Đằng làm được những diều ích quốc lợi dân trong những ngày tháng tới, để chứng tỏ sự “Phản tỉnh thật sự” của mình; để đoái công chuộc tội, do đã lầm lạc trong quá khứ đi theo Việt cộng, mà dù muốn dù không cũng phải gánh chịu một phần trách nhiệm trước nhân dân và lịch sử, về những di hại do Việt cộng gây ra cho nhân dân, dân tộc và đất nước trong nhiều thập niên qua.
Thiện Ý
Houston, ngày 20 tháng 8 năm 2013.

Tưởng niệm biến cố 30-4-1975, nhìn lại lịch sử: VÌ SAO CÓ CUỘC NỘI CHIẾN Ý THỨC HỆ QUỐC – CỘNG TẠI VIỆT NAM?



Tưởng niệm biến cố 30-4-1975, nhìn lại lịch sử:
VÌ SAO CÓ CUỘC NỘI CHIẾN Ý THỨC HỆ QUỐC – CỘNG TẠI VIỆT NAM?

Thiện Ý
     

      Theo nhận định của chúng tôi có hai nguyên nhân Chủ yếu  đã đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam: Nguyên nhân lịch sử và nguyên nhân mâu thuẫn đối kháng giữa ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản trên bình diện lý luận và thực tiễn.

I/- NGUYÊN NHÂN LỊCH SỬ.
     Chính bối cảnh đất nước bị ngoại xâm và nhu cầu kháng chiến giành độc lập của nhân dân Việt Nam đã đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam.

         Thật vậy, trước hết một cách tổng quát: Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến trường kỳ của các thế hệ quốc dân Việt Nam yêu nước nhằm đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập, tự chủ cho dân tộc đã là bối cảnh du nhập và phát triển ý thức hệ cộng sản tại Việt Nam.
1.- Từ ý thức hệ quốc gia chủ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp.
      Thật vậy, vào giữa thế kỷ 18, Châu Âu kỹ nghệ hóa cần nhiều nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hóa phục vụ cho nhu cầu phát triển chính quốc, các đế quốc đã thi nhau tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược mở rộng thuộc địa. Đế quốc Anh sau khi củng cố quyền thống trị trên Ấn Độ, đã thôn tính Úc châu, Tân Tây Lan, chuẩn bị thực hiện ý đồ xâm lược Trung quốc qua cuộc Chiến Tranh Nha Phiến. Trong khi đó, thực dân Pháp đã chiếm Algerie và đang đi tìm căn cứ trên bờ biển Trung quốc, làm bàn đạp thôn tính các nước trong vùng.
      Ngày 31-8-1858, Chiến Hạm Pháp đã bắn phá cửa biển Đà Năng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, để sau đó từng bước thiết lập chế độ thuộc địa tại Việt Nam, bành trướng qua Lào và Kampuchia. Tất nhiên, không phải là dễ dàng khi thực hiện quá trình xâm lược này (1958-1884). Trên thực tế, thực dân Pháp đã phải đương đầu với các cuộc kháng chiến liên tục và đều khắp đất nước của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.
      Trong những ngày đầu, lịch sử Việt Nam ghi nhận có các cuộc nổi dậy của nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân và nhiều sĩ phu yêu nước Miền Nam. Tiếp đến là các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp giành độp dưới ngọn cờ “Cần Vương, Văn Thân”, nối tiếp nhau trong nhiều thập niên cuối thế kỷ XIX. Hầu hết các nhà lãnh đạo các phong trào này đều xuất thân trong hàng ngũ quan lại chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam như Tôn Thất Thuyết,Phan Đình Phùng,Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật…Vì thế ý thức hệ quốc gia chủ đạo kháng chiến giai đọan này là  ý thức hệ thần quyền Thiên Mệnh của Khổng giáo.Theo đó từ nhà lãnh đạo đến quần chúng tham gia kháng chiến có chung ý tưởng hy sinh đánh đuổi thực dân Pháp giành lại ngai vàng cho Vua, cho hoàng tộc để tái lập quyền cai trị độc lập tự chủ của người Việt Nam. Bởi vì hệ tư tưởng quân chủ chuyên chế Khổng Mạnh, du nhập từ Trung quốc, dựa trên thuyết thần quyền thiên mệnh: Vua là Thiên tử,được Trời trao ban quyền cai trị muôn dân, là chủ đất nước, là biểu tượng quốc gia. Đạo quân thần đã đưa đến hệ quả là lòng “Trung quân, ái quốc”, là trung thành, hy sinh sống chết bảo vệ ngai vàng cho Vua tức là yêu nước vậy…
         Bước qua đầu thế kỷ XX,trào lưu tư tưởng dân chủ Phương Tây đã thẩm nhập vào Việt Nam và trở thành ý thức hệ thứ hai chủ đạo kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc. Những tác phẩm nổi tiếng như “L’Esprit Des Lois”, “Contrat Social” của Montesquieu và J.J Rousseau cũng như những tư tưởng tự do, công bình, bác ái, nhân quyền, và các quyền dân chủ, dân sinh khởi đi từ cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã ảnh hưởng đến chiều hướng đấu tranh của các nhà ái quốc Việt Nam.Thêm vào đó là trào lưu tư tưởng của các nhà dân chủ Trung Hoa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, cùng với một nước Nhật canh tân tiến đến tự cường và trở thành một cường quốc Á Châu cũng đã là những tấm gương sáng có sức thu hút mạnh mẽ giới sĩ phu yêu nước ViệtNam.
        Thực vậy, từ đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam bắt đầu ghi nhận` tư tưởng chủ đạo kháng chiến chống Pháp đi từ trung dung “Nửa quân chủ, nửa dân chủ” đến “dân chủ hoàn toàn”.
       Phong trào Đông Du (1906-1908) của cụ Phạn Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) của cụ Phan Chu Trinh và Việt Nam Quang Phục Hội của Cụ Phan Bội Châu…là những phong trào kháng chiến theo chiều hướng trung dung.Theo chiều hướng này, cuộc kháng chiến giành độc lập diễn ra dưới nhiều hình thức, đặt nặng vấn đề giáo dục quần chúng, nâng cao dân trí, cổ vũ lòng yêu nước, chuẩn bị về lâu về dài cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang sau này khi đủ thế lực và thời cơ thuận lợi.
     Chủ trương của trào lưu kháng chiến này là, sau khi đánh đuổi được thực dân Pháp, sẽ thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến kiểu Nhật Bổn và một số quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Mã Lai…Ước mơ của các nhà lãnh đạo kháng chiến lúc này là giành được độc lập rồi, vẫn giữ lại ngai vàng cho Vua để trọn đạo “Quân Thần”, đồng thời cũng muốn bảo vệ quyền dân chủ cho nhân dân bằng một bản hiến pháp thành văn. Đây là một chủ trương nhằm dung hòa quyền lợi giữa giai cấp thống trị và nhân dân bị trị, giúp cho các nhà lãnh đạo xuất thân từ “Cửa Khổng, sân Trình” cảm thấy an tâm trọn đạo thánh hiền. Nhưng rồi ước mơ này cũng đã không thực hiện được. Các phong trào đấu tranh theo hệ tư tưởng trung dung  cũng đã lần lượt bị thất bại, nhường chỗ cho một khuynh hướng tích cực hơn xuất hiện trong hàng ngũ các nhà lãnh đạo theo Tây học.
       Điển hình cho khuynh hướng này có Nguyễn Thái Học và các đồng chí của Ông, đã hình thành một chính đảng kiểu Tây Phương đầu tiên: “Việt Nam Quốc Dân Đảng”(1923-1924).Do chịu ảnh hưởng trực tiếp về tư tưởng và tổ chức của Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương đấu tranh bằng bạo lực quân sự kết hợp với sức mạnh nổi dậy của quần chúng để giành độc lập dân tộc.Sau đó thiết lập chế độ dân chủ theo mô hình “Tam dân chủ nghĩa” của Tôn Văn và vận dụng nguyên tắc phân quyền của hệ dân chủ Phương Tây, để dân chủ, dân quyền được tôn trọng, dân sinh được ấm no, hạnh phúc.
       Với lòng yêu nước nồng nàn, bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, năm 1930 lãnh tụ Nguyễn Thái học và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa võ trang cướp chính quyền ở Yên Báy. Cuộc khởi nghĩa này đã không thành công, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của Ông đã hiên ngang bước lên đoạn đầu đài nhận lãnh cái chết anh hùng cho “Tổ Quốc quyết sinh”. Mục tiêu và ước mơ tối hậu của các nhà ái quốcViệt Nam tuy chưa thành công, nhưng “đã thành nhân” như lời khẳng định trước đó của lãnh tụ Nguyễn Thái Học.
2.- Đến ý thức hệ cộng sản chủ đạo kháng chiến chống Pháp.
         Sau cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại, thực dân Pháp đã thực hiện các cuộc ruồng bắt và đàn áp dã man các nhà ái quốc việt Nam. Từ đây khuynh  hướng đấu tranh giành độc lập theo hệ tư tưởng quân chủ Đông phương và hệ tư tưởng dân chủ Tây Phương như tạm thời lắng dịu.Một khuynh hướng đấu tranh chống thực dân Pháp theo hệ tư tưởng Marxism-Leninnism, tức ý thức hệ cộng sản xuất hiện. Khuynh hướng này có mục tiêu tối hậu khác với mục tiêu tối hậu của khuynh hướng chống thực dân Pháp trước đó, gọi chung là ý thức hệ quốc gia. (Quân chủ và dân chủ).
         Nghĩa là, nếu khuynh hướng theo ý thức hệ quốc gia có mục tiêu tối hậu của cuộc kháng chiến chống pháp là giành độc lập dân tộc, để sau đó thiết lập một chế độ quân chủ hay quân chủ lập hiến hoặc một chế độc dân chủ đại nghị, thì khuynh hướng theo ý thức hệ cộng sản chỉ coi “Giành độc lập” là mục tiêu giai đoạn. Mục tiêu tối hậu của khuynh hướng ý thức hệ cộng sản là đưa đất nước và dân tộc Việt Nam vào hệ thống cộng sản quốc tế để thực hiện chủ nghĩa cộng sản, tiến tới một “Thế giới đại đồng”, không còn biên giới quốc gia, vì sự nghiệp của cộng sản quốc tế(cộng sản hóa toàn cầu).
         Thật vậy,lãnh tụ của cuộc kháng chiến chống Pháp theo hệ tư tưởng cộng sản là Nguyễn Tất Thành, tức Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh.
         Theo tài liệu tuyên truyền của Việt cộng, thì ông Hồ Chí Minh khởi đầu là người theo chủ nghĩa yêu nước mang ý thức hệ quốc gia trước khi trở thành môn đồ của chủ nghĩa cộng sản.Xuất thân từ một nền giáo dục nửa Nho học, nửa Tây học, biết đọc biết viết, không học vị. Năm 1911 Ông Hồ đã ra khỏi nước, bôn ba nhiều năm ở hải ngoại, nơi các nước đế quốc tư bản cũng như thuộc địa để tìm đường cứu nước…Sau cùng Ông Hồ đã “tìm ra được con đường cứu nước”; rằng “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường Cách mạng Vô sản”(1). Ông Hồ vui mừng và thốt lên câu nói này có lẽ là vì Ông tin tưởng vào thế đối cực hình thành sau cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga năm 1917, có thể dựa vào Liên  Xô  như một thế đối trọng sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến Thành Công. Thực tế sau này quả Ông Hồ đã thành cộng sau cuộc kháng chiến chín năm dưới sự chủ đạo của đảng CSVN nhờ thế dựa vào cộng sản quốc tế.Thế nhưng nếu cái gọi là cuộc chiến thắng Điện Biên kết thúc chín năm kháng chiến, đã chấm dứt được chế độ thực dân Pháp thì Ông Hồ và đảng CSVN đã đưa đất vào vòng nô lệ mới trong gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, với hai cực cường Liên Xô – Hoa Kỳ, đã xô đẩy nhân dân và đất nước vào một thảm trạng mới, đã gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện, di hại lâu dài cho dân cho nước sau này.Chính vị hệ quả này chúng tôi cũng như nhiều người khác cho rằng cuộc kháng chiến 9 năm do Ông Hồ và đảng CSVN phát động chủ đạo tiến hành là sự phí phạm xương máu nhân dân, tài nguyên đất nước không cần thiết, vì Việt Nam vẫn có thể được độc lập bằng phương cách hòa bình vào thời điểm chủ nghĩa thực dân cũ đã bước vào thời kỳ cáo chung, nhiều thuộc địa khác không cần đổ máu cũng đã được trao trả độc lập cùng thời hay sớm hơn, tiêu biểu như đế quốc Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ ngày 15-8-1947, cho Pakistan ngày 14-8-1947, cho Afghanistan ngày 14-9-1949; đế quốc Hòa Lan trao trả độc lập cho Indonesia ngày 14-8-1949…
     Trong khi trước đó, cuộc kháng chiến chống pháp dưới sự lãnh đạo của các nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia sở dĩ chưa thành công vì những điều kiện khách quan không thuận lợi nên không tìm được thế dựa trong bối cảnh độc cực, với các cường quốc đế quốc có chung chủng loại thực dân chia nhau xâm chiếm các quốc gia nghèo yếu làm thuộc địa khai thác lợi nhuận. Ngay cả nỗ lực của một số nhà ái quốc Việt Nam như Phan Bội Châu qua phong tráo Đông Du, muốn tìm thế dựa Nhật Bổn một cường quốc mới trong vùng Châu Á, mới manh nha đã thất bại.Vì vậy Ông  Hồ đã vui mừng đến phát khóc và hét to một mình như thế trong nhà trọ ở Paris Pháp quốc, sau khi đọc được tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Vladimir Lenine “Luận Cương Chính Trị Tháng Tư” (2). Nội dung tác phẩm này viết về vấn đề thuộc địa và các dân tộc bị áp bức. Ông Hồ như được giác ngộ bởi lý tưởng cộng sản và đã gia nhập đảng Cộng Sản Pháp (1920), qua Liên Xô, được giáo dục, đào tạo để trở thành môn đồ trung thành của chủ nghĩa Cộng sản.Từ đó Ông Hồ liên lạc , tuyên truyền, huấn luyện, tuyển chọn,móc nối được một số đồng chí, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hongkong (3-2-1930).
        Theo chính cương và sách lược đấu tranh của Cộng đảng Việt Nam được thông qua trong Đại Hội thành lập đảng thì có hai mục tiêu đấu tranh trường kỳ: Đánh đuổi thực dân Pháp để giải quyết mâu thuẫn dân tộc(với thực dân Pháp) và cộng sản hóa Việt Nam để giải quyết mâu thuẫn giai cấp ( giữa giai cấp công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, giai cấp thống trị với bị trị…).Để đánh đuổi thực dân Pháp,Cộng đảng Việt Nam đã tiến hành cuộc “Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân”. Để cộng sản hóa Việt Nam, Cộng đảng Việt Nam đã tiến hành “cách mạng Xã hội Chủ Nghĩa”. Lực lượng chủ yếu để tiến hành các cuộc cách mạng trước sau này, theo lý luận là giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo, dưới sự lãnh đạo độc tôn của Cộng đảng Việt Nam.Phương thức đấu tranh chủ yếu là “bạo lực cách mạng” (bao gồm bạo lực quân sự kết hợp với bạo lực chính trị), được thực hiện dưới nhiều hình thức: bí mật, công khai, hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp, bằng mọi thủ đoạn cần thiết để thành đạt mục tiêu theo phương châm “Cứu cánh biện minh cho hành động”.
        Trên thực tế, từ ngày thành lập Cộng Đảng Việt Nam, dù có lúc thay tên đổi họ (Đảng Cộng Sản Đông Dương, Đảng Lao Động Việt Nam), thậm chí có lúc do tình hình thực tế đòi hỏi phải tuyên bố tự giải tán, nhưng qua cuộc kháng chiến chống Pháp (1930-1954),cuộc chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975) và qua 55 năm kể từ ngày thành lập đảng CSVN đến khi thực hiện chính sách “Đổi Mới” (1930-1985) sau khi nắm quyền thống trị cả nước, Việt cộng đã thực hiện khá sát chính cương và sách lược trên đây của họ. (Thực hiện như thế nào, chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết trong tài liệu nghiên cứu lý luận  “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc – Cộng Tại Việt Nam”).

II/- NGUYÊN NHÂN MÂU THUẪN ĐỐI KHÁNG GIỮA Ý THỨC HỆ QUỐC GIA VÀ Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN
         Mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) giữa ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản đã là nguyên nhân chủ yếu thứ hai đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc- Cộng tại Việt Nam, giữa người Việt theo ý thức hệ quốc gia (Việt quốc) và người Việt theo ý thức hệ cộng sản (Việt cộng). Mâu thuẫn đối kháng này được thể hiện trên hai bình diện lý luận và thực tiễn.
       
1.-  Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa cộng sản dù có là một lý tưởng cao đẹp có tính mê hoặc lòng người, nhất là những người trẻ tuổi vốn say mê lý tưởng vào đời, nhưng không tưởng theo nghĩa một lý tưởng không thể thực hiện được. Vì vậy, những cá nhân (đảng viên cộng sản) hay tập đoàn (đảng cộng sản) ở bất cứ quốc gia nào, khi vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tiễn đã chỉ là tai họa thảm khốc, phá hủy mọi nền tảng đạo đức, văn hóa dân tộc, mất độc lập tự chủ, đưa nhân dân dân vào cảnh mất tự do, đói khổ, lầm than, di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ nhân dân,phân hóa dân tộc của quốc gia ấy.
         Rốt cuộc, cái gọi là “cuộc cách mạng vô sản” để xây dựng “một xã hội không người bóc lột người” (Từ xã hội: xã hội chủ nghĩa,còn giai cấp, đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, không còn giai cấp, không còn nhà nước…) chỉ là chiêu bài lừa mị của một tập đoàn thống trị độc quyền, độc tôn, độc tài (đảng cộng sản) để xây dựng “một xã hội người (với thiểu số cán bộ đảng viên CS) độc quyền áp bức bóc lột người (tuyệt đại đa số nhân dân)” chưa từng có trong lịch sử hình thành  các xã hội loài người có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản…theo duy vật sử quan Marxism)
   2.-Trên bình diện thực tiễn, những người cộng sản Việt Nam (Việt cộng) nói riêng, cộng sản quốc tế nói chung,  đã tin theo và vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tế nước ta, (cũng như  một số nước khác trên thế giới),đã gây tác hại nghiêm trọng, tòan diện, lâu dài trên con người, dân tộc và đất nước Việt Nam trong nhiều thập niên qua và di hại lâu dài cho Dân tộc và Đất nước Việt Nam qua nhiều thế hệ sau này.
         Vì tin và hành động theo “ý thức hệ cộng sản”  Việt cộng đã đánh mất bản sắc dân tộc, tách rời khỏi lịch sử chính thống quốc gia Việt Nam và dùng “Tính giai cấp” và  lăng kính “đấu tranh giai cấp” để phê phán chủ quan, không trung thực về các triều đại và  các anh hùng hào kiệt của lịch sử Việt Nam, xuyên tạc lịch sử và chối bỏ Tổ Quốc Việt Nam, để chọn và tôn thờ cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” là tổ quốc của mình. Và vì vậy cộng sản Việt Nam sẵn sàng hy sinh quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc việt nam cho quyền lợi của đảng Cộng sản Việt Nam và quốc tế cộng sản.
        Vì chủ trương hận thù và đấu tranh giai cấp Việt cộng đã phá đổ mọi quan hệ xã hội tốt đẹp giữa người với người, đã không ngần ngại thủ tiêu, bắn giết và làm mọi điều tàn ác với với những người anh em cùng mầu da sắc máu, chung nguồn gốc Việt tộc với họ,theo phương châm “cứu cánh biện minh cho hành động”.(như đã làm trong giai đoạn Chiến Tranh Quốc Cộng 1954-1975 điển hình là đã tàn sát, chôn sống hàng ngàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và các nơi khác trong suốt cuộc chiến tranh Quốc- Cộng)
        Vì chủ trương vô thần, chết là hết, nên Việt cộng không sợ hậu quả, đã thẳng tay đàn áp những người dân hữu thần, dùng mọi thủ đoạn, phương cách dù bất nhân, tàn bạo nhằm tiêu diệt mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo, vốn là nhu cầu quan yếu trong đời sống tâm linh của con người, và là một thực thể xã hội góp phần vào nền đạo đức xã hội nhân bản qua mọi thời đại.
        Thực tế là, sau khi nắm được quyền thống trị toàn đất nước 40 năm qua và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc, đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, với một đảng duy nhất nắm quyền thống trị (đảng CSVN) với một nhà nước “Chuyên chính vô sản” (tức độc tài cộng sản) bác đọat quyền tự do, dân chủ và các nhân quyền cơ bản của nhân dân, thông qua “ một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng cộng sản Việt Nam”, một công cụ trấn áp nhân dân, duy trì và bảo vệ quyền cai trị độc tài, độc tôn, độc quyền với những ưu quyền đặc lợi của một giai cấp thống trị mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản,chia nhau nắm quyền chia lợi ở các cấp, các ngành trong bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Nghĩa là một giai cấp thiểu số (khoảng 3 triệu đảng viên CS) thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam (trên 90 triệu dân)từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở.
        Đó là những lý do khái quát, căn bản trên bình diện lý luận và thực tiễn, khiến những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (Việt quốc), hay là những người Việt Nam không cộng sản từ quá khứ đến hiện tại, từ trong nước ra hải ngoại, đã và vẫn đang tiếp tục con đường chống cộng cho đến khi thành đạt mục tiêu lý tưởng theo ý thức hệ quốc gia của mình.

III/- KẾT LUẬN:
      Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc – Cộng tại Việt Nam phát sinh từ hai nguyên nhân: Bối cảnh lịch sử và mâu thuẫn đối kháng giữa ý thức hệ Quốc gia và ý thức hệ Cộng sản.
     Nguyên nhân lịch sử  bắt nguồn từ sự thất bại của các cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập dưới sự lãnh đạo của các nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia, do tự  mình không đủ sức, lại không tìm được hậu thuẫn quốc tế tạo thế đối trọng khả dĩ thay đổi cán cân lực lượng giữa kháng chiến và nhà cầm quyền thực dân Pháp, khi mà hầu hết các cường quốc đế quốc lúc bấy giờ có chung chủng loại thực dân phân chia nhau xâm chiếm các thuộc địa. Nỗ lực của một số nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia như nhà ái quốc Phan Bội Châu muốn dựa vào cường quốc Nhật Bổn trong vùng Châu Á qua Phong Trào Đông Du,vì lầm tưởng thuyết “Đại Đông Á” của người Nhật(Người Châu Á giúp người Châu Á) nên thực tế đã thất bại
      Chính sự bế tắc này đã dẫn Ông Hồ Chí Minh từ một người theo chủ nghĩa ái quốc đến với chủ nghĩa cộng sản khi tưởng rằng đã tìm được thế dựa quốc tế cho công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc từ Liên Xô và cộng sản quốc tế. Chính vì vậy Ông Hồ đã vui mừng đến phát khóc và hét to một mình trong nhà trọ ở Paris Pháp quốc rằng “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường Cách mạng Vô sản”.
     Thế nhưng chính sự lựa chọn lầm lẫn này Ông Hồ đã đưa đất nước vào một cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc – Cộng tại Việt Nam kéo dài trong nhiều thập niên qua đến nay vẫn chưa chấm dứt. Trên thực tế nó đã trở thành tai họa cho nhân dân và đất nước, đã thể hiện ý nghĩa trái ngược với ý nghĩa câu nói trên, rằng “Muốn phá nước và xích hóa dân tộc, không có con đường nào khác hơn, ngoài con đường cách mạng vô sản ”./.

Thiện Ý
Houston, tháng 4-2015