Sunday, April 8, 2018

The Vietnam War, ai thắng ai?



The Vietnam War, ai thắng ai?

31/10/2017

F-5 thả bom một vị trí "Việt Cộng" ở miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến Việt Nam.
F-5 thả bom một vị trí "Việt Cộng" ở miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến Việt Nam.
Chia sẻ
Thiện Ý
Sau khi coi bộ phim 10 tập “The Vietnam War” của hai nhà đạo diễn Mỹ là Kenn Burnes và Lynn Novick nhiều người Việt Nam cho rằng: Nếu so với các bộ phim tài liệu về “Chiến tranh Việt nam” do các đạo diễn người Mỹ thực hiện trước đây, thì bộ phim mới nhất này có tính khách quan hơn nhưng vẫn chưa đủ khách quan thể hiện đúng thực chất cũng như thực tế của cuộc chiến Việt Nam và còn nhiều sai lầm, bất công với bên Việt quốc. Vì vậy bộ phim này vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong công luận người Việt quốc gia ở hải ngoại. Riêng với nhà đương quyền Việt cộng từng là một bên trong cuộc chiến thì tỏ vẻ không hài lòng vì có một số sự thật bao lâu nay họ muốn che dấu đã được phơi bày trong bộ phim. Do đó, họ không chính thức cấm, nhưng cũng không muốn hay ngầm tìm cách ngăn cản bộ phim phổ biến rộng rãi trong nước; mặc dầu bộ phim này vẫn có nhiều lợi thế tuyên truyền cho kịch bản “ngụy dân tộc” để phát động cuộc chiến tranh nhuộm đỏ Miền Nam dưới ngọn cờ “chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc”.
Phần người viết đã cố gắng nhận định một cách khách quan, theo phương pháp sử học, qua ba bài:
  • “The Vietnam War là chiến tranh gì?”, để định danh, định hình cho cuộc chiến Việt Nam.
  • “The Vietnam War là chiến tranh của ai, do ai và vì ai?” để định tính, định lượng cho cuộc chiến Việt nam.
  • “The Vietnam War ai thắng ai?”, để định vị bên nào đã thắng trong cuộc chiến Việt nam, mà chúng tôi xin trình bày dưới đây.
I/- Ý NGHĨA THẮNG CUỘC TRONG MỘT CUỘC CHIẾN TRANH.
Theo ý nghĩa thông thường, trong một cuộc chiến tranh “Bên thắng cuộc” là bên đã đánh bại hoàn toàn đối phương, sau khi đối phương đầu hàng hay bị tiêu diệt, đưa cuộc chiến tranh đến kết thúc. Chẳng hạn Thế Chiến II (1939-1945) đã kết thúc sau khi Phe Trục thua cuộc (Đức-Ý-Nhật) phải đầu hàng phe thắng cuộc Đồng Minh (Mỹ-Anh-Pháp-Nga-Trung). Vậy thì…
II/- THE VIETNAM WAR AI THẮNG AI?
Như chúng tôi đã trình bày trong bài ““The Vietnam War là chiến tranh của ai, do ai và vì ai?”, rằng đó là cuộc chiến tranh giữa hai phe, bốn bên. Hai phe đó là phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa (Chiến tranh ý thức hệ toàn cầu); với bốn bên Liên Xô và Trung quốc, bên Hoa Kỳ và đồng minh (Ngoại chiến), bên Việt cộng và bên Việt quốc (nội chiến quốc-cộng). Cả hai cuộc chiến này cùng diễn ra trên chiến trường Việt Nam, trùng lắp không gian và thời gian, nên thường gọi chung là cuộc “Chiến tranh Việt Nam”. Cuộc chiến này đã chấm dứt vào ngày 30-4-1975, sau khi bên cộng sản Bắc Việt đánh bại hoàn toàn bên quốc gia Nam Việt, thôn tính được Miền Nam, thống nhất đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Như vậy theo ý nghĩa thông thường, phe xã hội chủ nghĩa đã thắng phe tư bản chủ nghĩa trong cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, thông qua cuộc chiền tranh cục bộ tại Việt nam, vì đã giành thêm lãnh địa toàn cõi Việt Nam cho phe XHCN. Hay nói cách khác một cách cụ thể là bên Liên Xô và Trung quốc đã thắng bên Hoa Kỳ và đồng minh trong cuộc chiến tranh cục bộ Việt Nam. Đồng thời, bên Việt cộng cũng đã thắng bên Việt quốc trong “cuộc chiến tranh quốc-cộng” tại Việt Nam (một giai đoạn của cuộc “Nội chiến ý thức thức hệ Quốc-Cộng”, hai giai đoạn kia là “Tiền chiến tranh Quốc-Cộng” (1930-1954) và “hậu chiến tranh Quốc-Cộng” (1975 đến nay vẫn chưa kết thúc).
Thế nhưng theo nhận định tổng quát của chúng tôi, đó chỉ là chiến thắng biểu kiến (coi vậy chứ không phải vậy)). Vì “The Vietnam war” đã kết thúc nhanh gọn, bị động và bất ngờ cho hai bên nội chiến Quốc-Cộng; cùng với diễn biến các sự kiện vào những ngày tháng cuối cùng trước và sau khi khi kết thúc cuộc chiến một cách không bình thường, tựa hồ như một kịch bản tiền định… Vì nếu việc kết thúc chiến tranh Việt Nam quả là một “thắng lợi thật” của phe XHCN trong đó có “bên thắng cuộc” Việt cộng, thì tình hình Việt Nam và thế giới phải biến chuyển theo chiều hướng khác với thực tế kể từ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30-4-1975.(1)
Vì vậy, chúng tôi cho rằng sự kết thúc chiến tranh Việt Nam vào ngày 30-4-1975 như thế không phải là thắng lợi thực sự của phe này (phe xã hội chủ nghĩa và Việt cộng) với phe kia (phe tư bản chủ nghĩa và Việt quốc) mà chỉ là vì nhu cầu thay đổi thế “chiến lược toàn cầu mới” (The New Globle Trategy) của các cường quốc cực nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, sau khi các mục tiêu và lợi ích chiến lược trong vùng đã thành đạt thông qua cuộc chiến Việt Nam; mà Hoa Kỳ đã chủ động đưa cuộc chiến tranh Việt Nam đến kết thúc, để khởi động cho một tiến trình đưa “các bên thắng cuộc” (phe XHCN và Việt cộng ) đến “thua cuộc hoàn toàn” (4). để đi vào “Chiến lược toàn cầu mới” (2)
Thực tế quả đã diễn biến đúng như vậy. Vì chỉ 15 năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Liên Xô “Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa” và hầu hết các nước XHCN trên thế giới đã xụp đổ (1990-1991). Tất cả đã chuyển đổi qua “chế độ dân chủ với nền kinh tế thị trường tự do (vốn là nội dung chủ yếu của thế chiến lược toàn cầu mới). Như vậy là phe XHCN đã “thua cuộc hoàn toàn”. Cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu hình thành sau Thế Chiến II,diễn ra dưới hai hình thái “Chiến Tranh Lạnh “ (The Cold War) và “Chiến tranh Nóng” (The Hot War) coi như chấm dứt sau 16 năm sau chấm dứt chiến tranh Việt Nam.(1975-1991).
Bên thắng cuộc Việt cộng, nằm trong phe XHCN, trong cuộc chiến tranh Việt Nam hôm qua, tất nhiên cũng không tránh khỏi số phận là “bên thua cuộc hoàn toàn” trong cuộc “nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam, khi quá trình tiêu vong đã, đang diễn ra và sắp đi đến kết thúc. Nghĩa là chế độ độc tài đảng trị hay toàn trị cộng sản dưới bảng hiệu “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam” cũng đã và đang trên quá trình tiêu vong để hình thành một chế độ dân chủ pháp trị, đa đảng với “ nền kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”; dù thực tế đảng và nhà cầm quyền CSVN (đỏ vỏ xanh lòng) hiện nay vẫn cố ngụy biện để kéo dài tuổi thọ, rằng Việt Nam đang đi theo con đườngkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; nhưng không thể cưỡng lại chiều hướng mới không thể đảo ngược của “chiến lược toàn cầu mới” của các cường quốc cực.
III/- KẾT LUẬN:
Tựu chung, căn cứ vào diễn biến các sự kiện không bình thường trước và sau khi The Vietnam War kết thúc vào ngày 30-4-1975, chúng tôi cho rằng Liên Xô, Trung quốc và phe xã hội chủ nghĩa trong đó có “bên thắng cuộc” Việt cộng, chỉ đạt được “Chiến thắng biểu kiến” có tính giai đoạn; do nhu cầu thay đổi thế chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực, mà Hoa Kỳ đã chủ động thực hiện kịch bản đưa cuộc chiến tranh Việt nam đi đến kết thúc.
Thực tế là, chế độ độc tài toàn trị công sản Liên Xô cũng như các nước XHCN Đông Âu đã tiêu vong vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, đưa cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đi đến kết thúc 16 năm rồi (1991-2017). Thực tế này cho phép kết luận ngắn gọn rằng, The Vietnam Warphe tư bản chủ nghĩa đã thua (giai đoạn chiến tranh Việt nam) để thắng (toàn cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu)- “phe xã hội chủ nghĩa đã thắng (giai đoạn chiến tranh Việt Nam) để thua bại hoàn toàn (cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu). Tương tự, The Vietnam War, bên Việt quốc đã thua giai đoạn (chiến tranh Quốc-Cộng) để thắng toàn cuộc (nội chiến ý thức hệ Quốc-Công) tại Việt Nam trong một tương lai không xa.
Thiện Ý
Houston, ngày 26 tháng 10 năm 2017.
Ghi chú: (1), (2):
Trong tài liệu viết cho “Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam”năm 1976, người viết đã đưa ra nhận định, rằng “Cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế, chẳng phải là thắng lợi của phe này đối với phe kia, mà chỉ là vị sự thay đổi thế chiến lược quốc tế của các cường quốc cực mà thôi…”; để sau đó đưa ra lời kêu gọi những người CSVN, rằng “chúng tôi khẩn thiết kêu gọi những người đang miệt mài xây một “Thiên đường cộng sản” trên đất nước này cần xét lại. Bởi vì biên giới quốc gia muôn đời vẫn là cái giới hạn mà các dân tộc sống chung phải bảo vệ trên hết và trước hết…” ; và rằng “Chỉ có đứng trên lập trường dân tộc, dưới ánh sáng chủ nghĩa yêu nước,chúng ta mới có thể tìm ra được con đường đúng nhất, có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam, phù hợp với ý nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, chứ không phải là tham vọng của những kẻ cầm quyền…”.
Tài liệu quay roneo dày khoảng 30 trang này người viết đã nhờ một người (Bs. N.T.T hiện sống tại Canada) là bạn thiếu thời và cũng là đồng hương Quảng Trị với Lê Hãn, Trưởng nam của cố TBT Lê Duẫn, chuyển tài liệu này đến thân phụ Ông. Chúng tôi không rõ tài liệu này có đến tay ông Lê Duẩn hay không.
Tất cả những nhận định và lời kêu gọi trên, chúng tôi có in lại trong cuốn “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, ấn hành tháng 4-1995, tái bản năm 2005-
Xin vào đọc thêm chi tiết tại: luatkhoavietnam.com, Mục “Diễn Đàn”, Tiểu mục “Tác giả-Tác phẩm” để đọc tác phẩm- Xin vào Tiểu mục “Hội luận-Phỏng vấn” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả về tác phẩm này (Tháng 5-1995), có nhắc lại lời kêu gọi trên.

Vietnam War, của ai, do ai, và vì ai?



Vietnam War, của ai, do ai, và vì ai?

31/10/2017

Một cảnh trong Vietnam War.
Một cảnh trong Vietnam War.
Chia sẻ
Thiện Ý
Cho đến lúc chúng tôi viết xong bài này, là đúng một tháng, cuốn phim 10 tập “THE VIETNAM WAR” của hai nhà đạo diễn Mỹ là Kenn Burnes và Lynn Novick đã được trình chiếu rộng rãi trên các phương tiện truyền thống đại chúng. Đối với khán giả các giới Việt Nam trong và ngoài nước, đã có những cảm nhận khác nhau, đưa đến các cuộc tranh cãi trong chốn riêng tư hay qua các bài viết về nội dung, ý nghĩa, tính trung thực và khách quan hay không của bộ phim này.
Trong bài trước “The Vietnam War là chiến tranh gì?”, được đăng tải trên diễn đàn này của Đài VOA, người viết đã định danh, định hình là “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc-Cộng” giữa người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (chủ nghĩa quốc gia: Nationalism) và người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản (chủ nghĩa cộng sản: Communism) trong bối cảnh cuộc “Chiến Tranh Ý Thức Hệ Toàn Cầu” (The Global War Of The Ideology) giữa cộng sản chủ nghĩa (Communism) đứng đầu là Liên Xô với phe các nước xã hội chủ nghĩa; và tư bản chủ nghĩa (Capitalism) đứng đầu là Hoa Kỳ với phe các nước tư bản chủ nghĩa.
Trong bài viết này, người viết sẽ định tính và định lượng “The Vietnam War là chiến tranh của ai, do ai và vì ai?”.
I/- THE VIETNAM WAR LÀ CHIẾN TRANH CỦA AI?
Theo cách định danh, định hình của chúng tôi (bên cạnh cách định danh, định hình khác như chúng tôi đã trình bày) thì The Vietnam War là cuộc chiến giữa “Hai phe, bốn bên”.
Hai phe đó là: Phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) đứng đầu là Liên Xô và các nước XHCN (hay cộng sản) trong đó có bên cộng sản Bắc Việt (gọi tắt là Việt cộng); và phe tư bản chủ nghĩa (TBCN)đứng đầu là Hoa Kỳ và các nước tư bản chủ nghĩa, trong đó có bên quốc gia Nam Việt (gọi tắt là Việt quốc). Cả hai phe cùng thực hiện “cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu” giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa dưới hình thái một “cuộc Chiến tranh nóng” (The Hot War) hay “Chiến tranh cục bộ” tại chiến trường Việt Nam.
Bốn bên đó là: Bên Liên Xô, Trung Quốc với các nước XHCH (bên ngoài gián tiếp tham chiến) và bên Việt cộng (bên bản xứ trực tiếp tham chiến) thuộc phe XHCN.- Bên Hoa Kỳ với các nước đồng minh TBCN (bên ngoài tham chiến gián tiếp lúc đầu (1954-1963), sau trực tiếp tham chiến) và bên Việt quốc (bên bản xứ trực tiếp tham chiến) thuộc phe TBCN.
Như vậy có thể coi “The Việt Nam War” là “ngoại chiến”(chiến tranh ngoài nước) của các nước Liên Xô, Trung quốc với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; cũng là “ngoại chiến” của Hoa Kỳ với các nước đồng minh trong phe tư bản chủ nghĩa. Đồng thời “The Vietnam War”“Nội chiến” của hai bên người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản và người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia. Chính vì vậy chúng tôi đã định danh, định hình chiến tranh Việt Nam là một “Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”. Cuộc nội chiến này diễn ra trong bối cảnh của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa là như thế.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, dù hai cuộc chiến này cùng diễn ra trên chiến trường Việt Nam, trùng lắp không gian và thời gian, có thể bề ngoài cùng chung mục tiêu, lý tưởng (của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa tư bản) , nhưng khác biệt lợi ích và ý đồ giữa các bên tham chiến muốn thành đạt thông qua “The Vietnam War”. Bởi lẽ nếu hai “cuộc chiến ý thức hệ toàn cầu”“cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam là một, thì sau ngày 30-4-1975, “bên thua cuộc” Việt quốc đã không còn lý do tiếp tục chống lại “bên thắng cuộc” Việt cộng cho đến nay và vẫn đang tiếp tục cho đến khi nào giành được mục tiêu tối hậu của chủ nghĩa quốc gia là dân chủ hóa đất nước. Và mặc dù cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa (hay là cuộc Chiến tranh Lạnh theo cách gọi của Tây phương) đã chấm dứt 27 năm rồi (1990-2017).
II/- THE VIETNAM WAR LÀ CHIẾN TRANH DO AI ?
Cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu” hình thành sau Thế Chiến II diễn ra dưới hai hình thái “Chiến tranh Lạnh ” (The Cold War) giữa các cường quốc giầu mạnh (Chiến tranh tâm lý, tuyên truyền, chạy đua vũ trang…)“Chiến tranh Nóng” (The Hot War) nơi các nước nghèo yếu như Việt Nam (chiến tranh tâm lý, khủng bố, chiến tranh vũ trang…(1)).
Phe cộng sản, đứng đầu là Liên Xô thì phất cao ngọn cờ “Cách mạng vô sản” để lôi kéo các nước nghèo đi vào quỹ đạo của mình, để cùng thực hiện mục tiêu lý tưởng chung của chủ nghĩa xã hội (Chính trị độc tài toàn trị- Kinh tế chỉ huy hoạch định cứng rắn, tài sản công hữu, tiến tới xã hội cộng sản không còn giai cấp…(2)
Phe thư bản đứng đầu là Hoa Kỳ thì phất cao ngọn cờ “ tự do dân chủ” để lôi kéo các nước nghèo đi vào quỹ đạo của mình để cùng thực hiện mục tiêu lý tưởng chung của chủ nghĩa tư bản (Chính trị dân chủ pháp trị, kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, tôn trọng quyền tư hữu trong một xã hội tự nhiên vốn có giai cấp, cộng đồng đồng tiến...(3).
Sự cạnh tranh giữa hai phe cộng sản và tư bản để “lấn đất dành đồng chí hay bảo vệ đồng minh giữ đất” đã đưa đến các cuộc chiến tranh cục bộ nơi các nước thường là những nước nghèo, mới thoát ách thống trị của các đế quốc thực dân.Các cuộc chiến tranh cục bộ này thường là các cuộc nội chiến ý thức hệ do có sự xung đột giữa ý thức hệ vốn có từ trước của những người trong nước (chủ nghĩa quốc gia) với ý thức hệ cộng sản (chủ nghĩa cộng sản) mới du nhập. Thực tế tựa hồ như có sự phân công: Phe cộng sản thường ở thế tấn công, phát động chiến tranh lấn chiếm lãnh thổ, cướp chính quyền. Phe tư bản thì thường ở thế phản công, ngăn chặn, đẩy lùi để bảo vệ lãnh thổ, chính quyền với tổ chức xã hội hiện hữu nơi các nước có hiểm họa cộng sản (Chủ thuyết Domino)
Việt Nam cũng như một số nước nghèo yếu ( như Miên, Lào, Đại Hàn, một số nước ở Châu Phi, Châu Mỹ Latin…) có số phận không may đã rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu. Vì trước đó, chủ nghĩa cộng sản đã du nhập Việt Nam, với đảng CSVN chính thức có mặt trên chính trườngViệt Nam từ ngày 3-2-1930 tạo ra mâu thuẫn đối kháng với chủ nghĩa quốc gia (quân chủ chuyên chế rồi dân chủ tự do…). Nói cách khác, nếu chủ nghĩa cộng sản không du nhập, đã không có đảng CSVN, đã không có cuộc “nội chiến ý thức hệ quốc-cộng” kéo dài nhiều thập niên qua, trước cũng như sau cuộc chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975) cho đến nay vẫn chưa chấm dứt. Do đó, dù muốn dù không Việt Nam đã được chọn là chiến trường thực hiện hình thái “Chiến tranh nóng” cao độ, để qua đó các cường quốc đứng đầu hai phe cộng sản và tư bản tranh dành lãnh địa, lôi kéo Việt Nam đi vào quỹ đạo của mình, nhân danh mục tiêu lý tưởng tối hậu của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa tư bản.
Một số người Việt Nam, hàng đầu như Ông Hồ Chí Minh, đã bị mê hoặc của lối mời chào này, quy tụ thành “Đảng Cộng sản Việt Nam( đảng CSVN ra đời năm1930), nằm trong hệ thống các đảng cộng sản quốc tế, nên đã tự nguyện, chủ động tiến hành “Cách mạng vô sản” dưới ngọn cờ “chống ngoại xâm, giành độc lập” (thời kỳ kháng chiến chống pháp)hay “Chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”(Thời kỳ chến tranh ý thức hệ toàn cầu) để cướp chính quyền Miền Nam, cộng sản hóa Việt Nam, mở mang bờ cõi cho phe xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, để thực hiện cuộc chiến tranh này, bên Việt cộng đã được Liên Xô, Trung Quốc và “Các nước xã hội chủ nghĩa anh em” chi viện dồi dào mọi mặt về của, về người, như vũ khí, lương thực, y tế và cả nhân lực cố vấn, chuyên gia, hậu cần hay ngụy trang tham gia chiến đấu, để “giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, cộng sản hóa cả nước..
Hiệp Định Genève 1954 chia đôi Việt Nam đã chấm dứt chế độ thuộc địa của thực dân Pháp kéo dài gần 100 năm (1858-1954). Vì Hiệp định này chỉ là sự ký kết giữa chính quyền thực dân Pháp và Việt Minh (tức Việt cộng) sau khi căn cứ chiến lược Điện Biên Phủ bị thất thủ, nên việc giao Miền Bắc Việt Nam từ vỹ tuyến 17 cho Việt cộng chỉ có ý nghĩa như là Pháp bị mất một nửa thuộc địa Việt Nam cho phe xã hội chủ nghĩa, để sau đó, một nửa nước Miền Bắc Việt Nam trở thành “tiền đồn cho phe xã hội chủ nghĩa”, có nhiệm vụ phát động cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, đưa Việt Nam vào hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, có chung một “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô” (có sự cạnh tranh ngôi vị của Trung Quốc).
Một nửa Miền Nam Việt Nam Pháp đã đến lúc không thể tiếp tục kéo dài chế độ thuộc địa,buộc phải trao trả độc lập hoàn toàn, sau khi đã trao trả độc lập từng phần từ năm 1949, cho chính quyền quân chủ Việt Nam với vua Bảo Đại, là vị vua cuối cùng của dòng họ Nguyễn đã trị vì trước và sau khi bị thực dân Pháp xâm chiếm đô hộ. Và vì vậy, chính quyền quốc gia quân chủ và sau đó chính quyền dân chủ Việt Nam Cộng Hòa coi mình là một chính quyền chính thống của quốc gia Việt Nam, tiếp nhận nền độc lập từ tay thực dân pháp. Thế nhưng sau đó lại rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu. Miền Nam Việt nam đã trở thành “Tiền đồn cho phe tư bản chủ nghĩa” hay còn gọi là “Tiền đồn thế giới tự do” đứng đầu là Hoa Kỳ với các nước phe tư bản chủ nghĩa, viện trợ mọi mặt cho chính quyền và nhân dân Miền Nam, trực tiếp tham chiến chống cộng,để cùng ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, nhuộm đỏ đất nước của Việt cộng, được Liên Xô, Trung Quốc và các nước phe xã hội chủ nghĩa chi viện toàn diện.
Đến đây có thể trả lời cho câu hỏi “THE VIETNAM WAR” là chiến tranh do ai gây ra: Rằng chính Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở thế tiến công đã gây ra cuộc chiến, khi chủ mưu và hổ trợ cho đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Việt khởi động cuộc chiến tranh Việt Nam, với vũ khí, lương thực đạn dược, các phương tiện giết người của Liên Xô, Trung quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Vậy các bên khởi động cũng như bị động tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam là vì ai?
III/- THE VIETNAM WAR LÀ CHIẾN TRANH VÌ AI?
Như ở phần (I) chúng tôi đả viết: “dù hai cuộc chiến này cùng diễn ra trên chiến trường Việt Nam, trùng lắp không gian và thời gian, có thể bề ngoài cùng chung mục tiêu, lý tưởng, nhưng khác biệt lợi ích và ý đồ giữa các bên tham chiến muốn thành đạt thông qua “The Vietnam War”.
Vậy THE VIETNAM WAR là chiến tranh vì ai? - Chúng tôi thử nhận định qua bốn bên trong hai phe tham gia trực tiếp hay gián tiếp cuộc chiến Việt Nam là vì ai?
Đối với hai bên ngoại chiến đứng đầu phe XHCN là Liên Xô ( thêm Trung Quốc) và đứng đầu phe TBCN là Hoa Kỳ, thì cả hai bên tham gia chiến tranh Việt Nam gián tiếp hay trực tiếp đều vì quyền lợi quốc gia của họ, dưới chiêu bài khác nhau. Bên Liên Xô (cũng như Trung Quốc) và bên Hoa Kỳ và một số nước đồng minh khi tham chiến đều nhằm thành đạt các lợi ích chính trị,quân sự kinh tế và các lợi ích khác của chính quốc gia của họ, thông qua cuộc chiến Việt nam. Cả hai bên ngoại chiến đều nhân danh những lý tưởng cao đẹp khi tham chiến là để giúp hai bên nội chiến đồng chí (Việt cộng) hay đồng minh (Việt quốc) thắng cuộc để thực hiện mục tiêu lý tưởng chung.
Chẳng hạn về chính trị cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều thông qua chiến tranh Việt Nam để tạo ảnh hưởng, lôi kéo Việt nam vào quỹ đạo của mình. Liên Xô thì có tham vọng cộng sản hóa toàn cầu để trở thành bá chủ. Hoa Kỳ thì tham gia chiến tranh Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn, đẩy lùi các cuộc chiến tranh xâm lấn lãnh địa, thực hiện tham vọng cộng sản hóa toàn cầu của Liên Xô
Chẳng hạn về quân sự, kinh tế …các cường quốc trong hai phe cộng sản và tư bản nhờ chiến tranh Việt Nam đã tiêu thụ được lượng vũ khí đạn dược và các khí tài quân sự tồn đọng sau Thế Chiên II và là nơi thử nghiệm thêm nhiều loại vũ khí mới. Một điển hình là sau Hiệp Định Genève chia đồi Việt Nam, quân đội VNCH ở Miền Nam ở thế thủ, trong thời gian đầu đã chỉ được Hoa Kỳ trang bị các loại súng cá nhân từ thời Thế Chiến II như súng Garant (mỗi khi bắn phải lên cò từng viên), hay súng liên thanh Carbin M.1 hay M.2. Mãi cho đến khi quân đội CSBV được Liên Xô, Trung Quốc trang bị cho vũ khí cá nhân AK, thì quân đội VNCH mới được Hoa Kỳ trang bị cho AR.15 hay 16. Nghĩa là quân đội VNCH được trang bị vũ khí các loại tối tân theo kiểu “nước lên, thuyền lên”. Bên Việt cộng đóng vai trò tấn công trong cuộc chiến được Liên Xô, Trung Quốc trang bị các loại vũ khí tối tân đến đâu thì quân đội VNCH ở thế thủ cũng được Hoa Kỳ và đồng minh trang bị vũ khí tối tân đến đó.
Vì vậy, theo nhận định của chúng tôi, một khi thấy “The Vietnam War” không còn lợi ích, các cường quốc đứng đầu hai phe đã tìm cách chủ động đưa cuộc chiến Việt Nam đi đến kết thúc.Vì vậy chúng tôi từng nhận định rằng, thực tế “The Vietnam War” chấm dứt như thế “không phải là thắng lợi của phe này ( Phe XHCN và Việt cộng) đối với phe kia (Phe TBCN và Việt quốc) mà chỉ là vì nhu cầu phải thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực mà thôi” (4)
Đối với bên nội chiến Việt cộng ở Miền Bắc thì phát động chiến tranh nhân danh lợi ích ngụy dân tộc “kháng chiến chống Mỹ xâm lược, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, vì “độc lập- tự do-Hạnh phúc” của nhân dân. Đồng thời, nhân danh quyền lợi giai cấp vô sản, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cộng sản làm “Chiến tranh cách mạng” để nhuộm đỏ Việt Nam và các nước Đông Dương (Việt-Miên-Lào…), cộng sản hoá tòan cầu để thực hiện mục tiêu lý tưởng cộng sản tối hậu (một thế giới đại đồng, không còn biên giới quốc gia, xã hội cộng sản viên mãn như “Thiên đường cộng sản”). Do đó đã được Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe XHCN chi viện vũ khí đạn dược, lương thực dồi dào để giành chiến thắng bằng bạo lực cách mạng.
Đối với bên nội chiến Việt quốc ở Miền Nam thì buộc lòng phải tham gia một cuộc chiến tự vệ vì lợi ích dân tộc, để bảo vệ phần đất Miền Nam và chế độ dân chủ VNCH vì lý tưởng tự do dân chủ, với sự trợ giúp nhiều mặt của Hoa kỳ và đồng minh. Mục tiêu lý tưởng của Việt quốc là dân chủ hóa cả nước, không phải bằng bạo lực chiến tranh thôn tính, mà bằng ưu thắng của chế độ dân chủ pháp trị giầu mạnh văn minh tiến bộ ở Miền Nam trên chế độ độc tài toàn trị cộng sản nghèo yếu, lạc hậu ở Miền Bắc. (như thực tế nước Đức đã thống nhất bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ Tây Đức giầu mạnh, trên chế độ độc tài cộng sản Đông Đức …)
Vậy thì, một cách khách quan và công bằng, chúng tôi cho rằng cả hai bên nội chiến phát động chiến tranh từ Miền Bắc (Việt cộng) hay chiến tranh tự vệ ở Miền Nam (Việt quốc) đều có ý hướng muốn thống qua cuộc chiến giành chiến thắng để có điều kiện thực hiện mục tiêu lý tưởng tối hậu của mình trên cả nước, theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa quốc gia. Vì tự tin rằng đó là điều tốt đẹp cho nhân dân, đất nước và dân tộc.
Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng hai bên Việt quốc cũng như Việt cộng, dù ở thế chẳng đặng đừng phải làm công cụ cho hai phe ngoại bang trong cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, nhưng không người Việt quốc gia chân chính nào ở Miền Nam nghĩ rằng mình tham gia cuộc chiến chống cuộc chiến tranh xâm lấn của CSBV là “đánh thuê cho Mỹ”, mà là để bảo vệ phần đất Miền Nam vì lý tưởng tự do dân chủ của chủ nghĩa quốc gia. Trái lại, cũng như những người Việt cộng sản chân chính, không ai nghĩ rằng “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung quốc” như Cố Tổng Bí Thư đảng CSVN Lê Duẩn đã phải tuyên bố khi Việt Nam bị Trung Quốc bức bách sau chiến tranh; mà hầu hết thực tâm tham gia cuộc chiến là say mê vì lý tưởng cộng sản mà họ tin là cao đẹp, có thể hiện thực. Chẳng thế mà trong thời kỳ chiến tranh, cố Thủ tướng Việt cộng Phạm Văn Đồng đã ra công hàm năm 1958 tán đồng tuyên bố chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc, có lẽ vì cả tin cho rằng “không còn biên giới quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản,” thì các hải đảo ở Biển đông là của Việt Nam hay Trung Quốc cũng thế thôi?-
Tựu chung, cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn” (1954-1975) và sau khi cuộc chiến tranh này đã kết thúc 42 năm rồi (1975-2017) đã cho thấy cuộc chiến tranh ấy đã không đem lại những điều tốt đẹp gì cho nhân dân, đất nước và dân tộc như mong đợi của cả đôi bên Việt Quốc cũng như Việt Cộng. Thực tế chẳng cần nói ra thì ai cũng biết, cuộc chiến ấy đã chỉ để lại những hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và di hại lâu dài cho dân, cho nước. Trong khi mục tiêu lý tưởng tối hậu của “bên thắng cuộc” cũng như “bên thua cuộc” vẫn chưa bên nào đạt được.
“Bên thắng cuộc” (Việt cộng) thì đã có điều kiện và cơ hội thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình là xây dựng chủ nghĩa xã hội sau chiến tranh. Thế nhưng đã thất bại hoàn toàn sau 10 năm đầu thử nghiệm triệt để chủ nghĩa xã hội(1975-1985) qua “đổi mới” 10 năm (1985-1995) vẫn không thành, phải “mở cửa” bắt tay với cựu thù “Đế quốc Mỹ” để cho các nước tư bản tràn vào đầu tư. Từ đó và nhờ đó đảng CSVN đã thoát hiểm, kinh tế Việt Nam cất cánh để có bộ mặt xã hội phát triển phồn vinh như hôm nay. Đời sống nhân dân ngày được nâng cao, dù sự cách biệt giầu nghèo còn sâu sắc; nhân dân từng bước đã được trả lại các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền.
“Bên thua cuộc” (Việt quốc) thì tiếp tục đẩy mạnh các hình thức “chống cộng” vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước, tạo lực đẩy, lực xoay cùng chiều về phía dân chủ, làm tăng tốc dân chủ hóa để sớm kết thúc giai đoạn cuối cùng của tiến trình dân chủ hóa Việt Nam một cách hòa bình.
Thiết tưởng, đảng và nhà cầm quyền hiện nay, mà thực chất cũng như thực tế không còn là cộng sản nữa, đã đến lúc phải thức thời, mạnh dạn vất bỏ “cái mặt nạ cộng sản” đi và công khai khẳng định con đường đưa đất nước đến phôn thịnh, văn minh tiến bộ và dân chủ là “con đường phát triển theo kinh tế thị trường, định hướng tư bản chủ nghĩa”, không nên tiếp tục lừa bịp nhân dân bằng “con đường kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Vì đó là chiếu hướng phát triển tất yếu của thực tiễn và lịch sử Việt Nam.
Thiện Ý
Houston, ngày 17-10-2017
* Ghi chú: (1), (2), (3) và (4)
Xin vào: luatkhoavietnam.com, Mục “Diễn Đàn”, Tiểu mục Tác giả-Tác phẩm” để đọc thêm “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, ấn hành tháng 4-1995, tái bản năm 2005- Vào Tiểu mục “Thuyết trình-Phỏng vấn” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả về tác phẩm này.

‘The Vietnam War’ là chiến tranh gì?



‘The Vietnam War’ là chiến tranh gì?

29/09/2017

Poster phim tài liệu The Vietnam War.
Poster phim tài liệu The Vietnam War.
Chia sẻ
Bộ phim tài liệu “The Vietnam War” gồm 10 tập, thời lượng kéo dài 18 tiếng đồng hồ của hai nhà đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng của Mỹ là Ken Burnes và Lynn Novick, vừa được khởi chiếu hôm 17-9-2017, trên hệ thống truyền hình PBS (Public Broadcasting Service), mạng truyền thông công cộng bất vụ lợi với 349 đài truyền hình trên khắp Hoa Kỳ. Sau đó, “The Vietnam War” đã được phổ biến rộng rãi trên mạng internet toàn cầu, ai cũng có thể coi được.
Bộ phim nhiều tập nói về cuộc chiến tranh Việt Nam này, đã được sự quan tâm của giới truyên thông, người dân Hoa Kỳ cũng như người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, với những cảm nhận và phản ứng tâm lý, tình cảm, đánh giá khác nhau.
Bài viết này không nhằm nhận xét phê bình bộ phim nhiều tập “The Vietnam War” nên không đi sâu vào các chi tiết của bộ phim, mà chỉ tìm cách lý giải vì sao người xem đã có những cảm nhận và phản ứng tâm ký, tình cảm khác nhau, qua chủ đề: “The Vietnam War” là chiến tranh gì?
1.-“The Vietnam War” làcuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nướchay là Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc”, không phải là “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam?
Đó là tên gọi cuộc chiến Việt nam của đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam từng là một bên trong cuộc chiến hôm qua, cho đến bây giờ vẫn gọi như thế. Nghĩa là Việt cộng không coi đó là “Cuộc nội chiến” giữa người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (gọi tắt là Việt quốc) và người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản (gọi tắt là Việt cộng).
Như thế, Việt cộng tự coi chính quyền, quân đội của chế độ Miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) trong cuộc chiến là chính danh, đại diện cho dân tộc để có quyền phát động và tiến hành “chiến tranh chống Đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước”. Đồng thời Việt cộng coi chính quyền và quân đội Việt quốc trong chế độ Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) là “ngụy quyền và ngụy quân” tay sai do “đế quốc Mỹ” dựng lên và cưu mang. Nói cách khác, Việt cộng đã đồng hóa Hoa Kỳ như thực dân Pháp xâm lược đô hộ Việt Nam; chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa như chính quyền, quân độ dưới chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (1858-1954).
*Nhận định:
Cách gọi trên hiển nhiên là chủ quan, một chiều, không đúng với thực chất cũng như thực tế khách quan của cuộc chiến Việt Nam. Tất nhiên không được người Việt quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản chấp nhận. Vì ai cũng biết đó chỉ là kịch bản ngụy dân tộc để tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam dưới ngọn cờ “Chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc”; để nhân dân trong nước và quốc tế lầm tưởng cuộc chiến tranh này chỉ là sự tiếp nối “cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập”.
Kịch bản “ngụy dân tộc” này từng được dùng để che đậy “cái đuôi cộng sản” ngay từ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh (mặt nạ của Việt cộng), dưới ngọn cờ “giải phóng dân tộc” hòng khơi dạy lòng yêu nước chống ngoại xâm của người dân để huy động “Sức người, sức của” toàn dân vào cuộc chiến. Vì ngay từ thời đó, chủ nghĩa cộng sản còn xa lạ và đã là nỗi sợ hãi của dân chúng Việt Nam khi nghe nói về một chủ nghĩa ngoại lai “Tam Vô” (vô tổ quốc, vô gia đình và vô tôn giáo). Thế nên, sau khi thống trị một nửa nước Miền Bắc, Việt cộng tiếp tục dùng bảng hiệu ngụy dân chủ, ngụy cộng hòacho chế độ là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” có từ sau 1945. Đồng thời đã dùng tên đảng Lao Động Việt Nam làm mặt nạ cho đảng CSVN (từ 1951). Tất cả bộ mặt “ngụy dân tộc” và “ngụy dân chủ, ngụy cộng hòa” này đều đã lộ nguyên hình trước là Việt Minh, sau là Việt cộng, chỉ là công cụ của cộng sản quốc tế, đánh Tây, đánh Mỹ không phải để giành độc lập cho dân tộc, mà để giành chính quyền thực hiện chủ nghĩa cộng sản, phi dân tộc. Vì thế, sau khi chiếm được Miền Nam thống nhất đất nước, đã đưa cả nước tiên lên “xã hội chủ nghĩa(tức giai đoạn đầu của cộng sản chủ nghĩa với đỉnh cao là Thiên đường cộng sản !).
Vì ngay khi cuộc chiến tranh đang diễn ra, chính lãnh tụ cộng đảng Viêt Nam Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Đối với cách mạng Việt Nam và dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác Lê không những là một cẩm nang thần kỳ mà còn là mặt trời soi sáng con đường thẳng tới thắng lợi cuối cùng, tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”. Còn Lê Duẩn, cố tổng Bí thư đảng CSVN, sau cuộc chiến cũng từng tuyên bố “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…Một sự tự thú làm công cụ tri tình cho cộng sản quốc tế tiến hành “chiến tranh cách mạng(đỏ)”, núp dưới chiêu bài “Chiến tranh giải phóng dân tộc” để nhuộm đỏ Miền Nam Việt Nam, tiến đến mục tiêu tối hậu là cộng sản hóa toàn cầu của cộng sản quốc tế, đứng đầu là hai tân đế quốc đỏ Nga-Tàu (thực tế nay đã thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn).
Thế nhưng đến nay, Việt cộng vẫn trơ trẽn đeo mặt nạ cộng sản cho chế độ “đỏ vỏ xanh lòng” bằng bảng hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Mặc dầu “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô” và hầu hết “các nước xã hội chủ nghĩa anh em” đã chết từ 27 năm rồi (1990-2017).Thành ra, vai trò của cộng sản Liên Xô là gì và Cộng sản Bắc Việt phát động và tiến hành chiến tranh xâm chiếm Miền Nam cho ai, không cần nói ra thì ai cũng biết câu trả lời là gì rồi.
Đến bây giờ, sau nhiều ngày im lặng, báo chí Việt Nam hôm 21-9-2017 vừa qua đã đăng thông tin liên quan tới bộ phim tài liệu “The Vietnam War” của Mỹ, khi trích lại tuyên bố chính thức của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc kháng chiến mang tính chính nghĩa, đã phát huy được sự đoàn kết và sức mạnh của toàn dân tộc, được bạn bè và nhân dân trên toàn thế giới hết lòng ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng là thống nhất đất nước”.
Đây là phản ứng chính thức đầu tiên về bộ phim nhiều tập “The Vietnam War” đang được nhiều người trong nước theo dõi. Nội dung bộ phim phản ánh thực chất cũng như thực tế không phải là cuộc chiến mà bao lâu nay đảng và nhà cầm quyền CSVN đã tuyên truyền lừa bịp; trong đó có những hình ảnh, sự thật bất lợi liên quan đến các lãnh tụ Việt cộng hàng đầu như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp… và những tội ác chiến tranh không thể biện minh (như vụ thảm sát hàng ngàn người cùng màu da sắc máu Việt tộc trong cuộc tổng tiến công vào các đô thị Miền Nam dịp Tết Mậu Thân 1968…). Sau hơn 42 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc (1975-2017) đảng và nhà cầm quyền Việt Cộng vẫn còn gọi cuộc chiến Việt Nam theo kịch bàn ngụy dân tộc là “Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc kháng chiến mang tính chính nghĩa…” như lời người phát viên Lê Thị Thu Hằng nói, hoàn toàn duy ý chí, trái với thực chất và thực tế của cuộc chiến tranh này.
2.- “The Vietnam War” là “Cuộc chiến tranh xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việthay là “Cuộc chiến tranh tự vệ chống Cộng sản Bắc Việt xâm lăng”, không phải là “Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”?
Đó là cách gọi cuộc chiến Việt Nam của một số người Việt quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản từng sống ở Miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, từng là một bên trong cuộc chiến. Những người này vẫn không coi là môt “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam. Những người gọi tên như thế, đã dựa trên căn cứ pháp lý là bản Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến 17 làm biên giới tạm thời phân chia hai Miền Bắc và Nam Việt Nam; và Hiệp Định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam.
Theo đó, với hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam, đã tạo ra hai thực thể hội đủ yếu tố cấu thành hai quốc gia (lãnh thổ, dân cư và chính quyền) theo công pháp quốc tế.Vì vậy cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến giữa hai quốc gia nên không thể coi là “nội chiến” được; mà phải gọi là cuộc “Cuộc chiến tranh xâm lăng” của quốc gia Miền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) đối với quốc gia Miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Do đó, về phía Việt quốc cũng có thể gọi là “cuộc chiến tranh xâm lăng của cộng sản Bắc Việt” hay là “Cuộc chiến tranh tự vệ chống cộng sản Bắc Việt xâm lăng”….Cuộc chiến tranh này đã kết thúc vào ngày 30-4-1975 sau khi quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc dùng bạo lực xâm chiếm quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam. Như tế là đã vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris 1973 và cả Hiệp Định Genève 1954 mà Việt Minh hay Việt cộng đã ký kết với thực dân Pháp chia đôi đất nước.
* Nhận định:
Dường như những người Việt Quốc nào, muốn dựa trên căn cứ pháp lý trên để không coi cuộc chiến giữa Việt Cộng và Việt Quốc là nội chiến, là để có cơ sở pháp lý đấu tranh đòi các cường quốc đóng vai trò bảo đảm việc thực thi hai bản Hiệp Định Genève 1954 và Paris 1973, “buộc Việt Cộng” phải thi hành những cam kết trong hai bản Hiệp Định này vì đã vi phạm trắng trợn khi dùng bạo lực cưỡng chiếm quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam. Nghĩa là đòi phải tái lập nguyên trạng Quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc Việt Nam và quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam, như trước 30-4-1975, ngày Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam, để thống nhất đất nước môt cách hòa bình... Để từ đó và sau đó có cơ sở pháp lý “Đòi trả lại” các hải đảo thuộc hai quần đảo Trường Sa Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Cộng cưỡng đoạt năm 1974 và sau đó, khi các đảo này thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh.
Thế nhưng theo nhận định của chúng tôi, thực tế liệu các cường quốc có trách nhiệm bảo đảm việc thực thi hai Hiệp Định Genève 1954 và Hiệp Định Paris 1973 có “buộc được Việt cộng” tái thi hành các hiệp định này; hay có căn cứ pháp lý “đòi Trung Cộng trả lại” các đảo đã cưỡng đoạt của VNCH hay không? Trả lời câu hỏi này thật không đơn giản. Vì cả hai Hiệp Định này đều được hình thành trong bối cảnh khác nhau, song đều do sự chủ động của các cường quốc liên quan để “thoát hiểm nhất thời” nhằm thành đạt lợi ích chiến lược riêng nào đó, chứ họ không cần để các Hiệp ước đó được thực thi.Vả lại, nên nhớ là chính quyền Quốc gia và kế tục là Việt Nam Cộng Hòa, đã từ chối cùng với Mỹ đã không ký vào văn bản Hiệp Định Genève 1954 thì không có quyền nại ra để coi là tình trạng chiến tranh giữa hai quốc gia dược. Vì thực tế cả hai chính quyền cộng sản Bắc Việt và chính quyền quốc gia Nam Việt đều coi nước Việt Nam là một, với một đất nước, hai chế độ chính trị đối nghịch, không thừa nhận nhau, đều tự nhận là chính danh, đại diện dân tộc Việt Nam để phủ định nhau, tiêu diệt nhau…
3.- “The Vietnam War” là cuộc chiến tranh ủy nhiệm (Proxy War) không phải là “Cuộc nội chiến” (domestic warfare) .
Những người gọi tên cuộc chiến như thế,có thể là những người Việt Nam không cộng sản từng sống dưới hai chế độ đối nghịch trong cuộc chiến trên hai miền Nam Bắc Việt Nam. Những người này căn cứ vào thực tế cuộc chiến diễn ra trên hai miền đất nước Việt Nam trong bối cảnh “cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu” (Global war of Ideology ) giữa tư bản chủ nghĩa (Capitalism) và cộng sản chủ nghĩa (Communism), hình thành sau Thế Chiến II.(1939-1945).
Theo đó:
- Chính quyền cộng sản Bắc Việt được sự ủy nhiệm của cộng sản quốc tế, đứng đầu là Liên-Xô (có sự cạnh tranh của Trung Cộng), nhận chi viện mọi mặt của Liên Xô, Trung quốc và các nước “Xã hội chủ nghĩa anh em” như vũ khí, đạn dược, kinh tế, tài chánh và cả nhân lực nữa… để làm nhiệm vụ “tiền đồn phe xã hội chủ nghĩa”, chủ động phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam; đóng vai trò tên lính xung kích để mở mang bờ cõi cho cộng sản quốc tế, cộng sản hóa Miền Nam và các nước trong vùng thực hiện tham vọng cộng sản hóa toàn cầu, tiến đến một thế giới đại đồng mà đỉnh cao là “Thiên đường cộng sản” vốn là mục tiêu tối hậu của chủ nghĩa cộng sản.
- Chính quyền quốc gia Nam Việt, được sự ủy nhiệm của các cường quốc tư bản quốc tế, đứng đầu là Hoa Kỳ, nhận viện trợ mọi mặt như vũ khí, đạn dược,kinh tế, tài chánh và cả nhân sự …của hoa kỳ và các nước đồng minh, để làm nhiệm vụ “tiền đồn Thế giới Tự do”, thực hiện một “cuộc chiến tranh tự vệ” để ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lăng của CSBV, bảo vệ chế độ dân chủ, xây dựng và phát triển Miền Nam theo kiểu tư bản chủ nghĩa.v.v…
Nghĩa là một cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa hai phe cộng sản chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô và phe tư bản chủ nghĩa, đứng đầu là Hoa Kỳ, diễn ra dưới hình thức “Chiến tranh Nóng” cục bộ diễn ra trên đất nước Việt nam, với hai công cụ đều là người Việt Nam. Nhưng đó không phải là “cuộc nội chiến” mà là “Chiến tranh ủy nhiệm”. Vì Việt cộng nhận sự ủy nhiệm của Liên Xô và cộng sản quốc tế; còn Việt quốc thì được ủy nhiệm của Hoa Kỳ và các cường quốc đồng minh tư bản, để thực hiện chiến tranh xâm lần lãnh thổ (Việt cộng) và chiến tranh ngăn chặn, đẩy lùi (Việt quốc). Chính Tổng bí thư đảng CSVN đã từng nói Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung quốc…” hay Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm từng nói “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vỹ tuyến 17…”.Vì thế, những người có quan niệm này không coi chiến tranh Việt Nam là “Nội chiến” là thế.
* Nhận định:
Theo nhận định của chúng tôi, căn cứ cho cách gọi như thế là không đúng với thực tế và thực chất của cuộc chiến tranh Việt Nam.Vì thực tế cũng như thực chất đó là một “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”. Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng này diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu (Global War of Ideology) giữa hai khối cộng sản đứng đầu là Liên Xô và khối tư bản đứng đầu là Hoa Kỳ. Hai cuộc chiến này cùng diễn ra trên chiến trường Việt Nam.Tuy hai cuộc chiến này trùng lắp không gian và thời gian, có thể bề ngoại cùng chung mục tiêu, lý tưởng, nhưng không là một vì khác ý đồ muốn thành đạt thông qua cuộc hiến này.
Chính vì thế mà sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30-4-1975 cuộc nội chiến ý thức hệ Việt Nam vẫn chữa chấm dứt. Bên thất trận Việt Quốc vẫn tiếp tục chống cộng để thành đạt mục tiêu tối hậu của ý thức hệ quốc gia về chính trị là “dân chủ hóa đất nước”. Bên thắng cuộc Việt cộng vẫn tiếp tục thực hiện mục tiêu lý tưởng tối hậu là xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình (mà nay đã thất bại hoàn toàn phải quay qua con đường kinh tê 1thò trường tư bản chủ nghĩa…) . Mặc dù cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu hay là “Chiến tranh Lạnh”( theo cách gọi của Tây phương) giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đã chấm dứt từ lâu, thế giới đã đi vào chiến lược toàn cầu mới.
4.- “The Vietnam War” là một “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc-Cộng” giữa những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia và những người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản.
Đó là cách gọi có lẽ là của hầu hết những người Việt Nam từng ở hai bên cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua (1954-1975). Vì cách gọi này đúng với ý nghĩa chung của từ ngữ nội chiến (Domestic warfare) và diễn tả đúng thực chất cũng như thực tế khách quan của cuộc chiến
Theo ý nghĩa từ ngữ, nội chiến là xung đột vũ trang (chiến tranh quân sự) hay tâm lý (chiến tranh chính trị) trên quy mô cả nước, giữa người trong một nước, có tên gọi khác nhau tùy theo nguyên nhân đưa đến nội chiến. Tỷ như cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ (1761-1765) có tên gọi riêng “The Civil War” khác với từ ngữ chung về nội chiến (The domestic warfare); nguyên nhân là mâu thuẫn về vấn đề nô lệ chủng tộc người da đen giữa chính quyền các tiểu bang Miến Bắc chủ trương bãi bõ chế độ nô lệ, với chính quyền các tiểu bang Miền Nam muốn duy trì chế độ nô lệ. Cuộc chiến tranh Việt Nam nguyên nhân là sự đối kháng ý thức hệ giữa người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia và người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản nên gọi là “Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”.
Tên gọi này cũng đã được thể hiện qua bộ phim nhiều tập “The vietnam War” của hai nhà đạo diễn Mỹ đang được trình chiếu rộng rãi. Tuy nhiên nếu bộ phim phần nào thể hiện được tính khách quan, thì lại thể hiện mờ nhạt, không rõ nét tính chất “Nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam, đưa đến sự ngộ nhận chiến tranh Việt Nam như là cuộc chiến giữa Mỹ và Việt cộng; làm lu mờ vài trò chính quyền quốc gia trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam vốn là chủ thể chính trong cuôc nội chiến mà Hoa Kỳ chỉ đóng vai phụ; tương tự như vai trò của Liên Xô đối với chính quyền Cộng sản Bắc việt là một bên chính yếu trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng. Chính vì vây mà nhiều người Việt quốc khi xem bộ phim The Vietnam War đã có phản ứng bất bình đến phẫn nội.
Dẫu sao bộ phịm The Vietnam War cũng nói lên được phần nào thực chất cũng như thực tế của cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn này” chỉ vì khác biệt ý thức hệ. Ý thức hệ Quốc-Cộng đúng hay sai, lợi hại cho đất nước và và dân tộc thế nào thì đã có câu trả lời bằng chính thưc tế sau khi Việt cộng phát động, tiến hành chiến tranh “giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” đưa cả nước tiến lên “xã hội chủ nghĩa” với hậu quả ra sao?
Thiết tưởng không cần phải nói thêm những khác biệt về ý thức hệ đã đưa đến nội chiến, thì mọi người cũng đã biết và chúng tôi cũng đã lý giải tổng quát ở các phần trên bài viết này.
Thay lời kết, người viết xin đưa ra một số cảm nhận sau khi xem bộ phim tài liệu nhiều tập “The Vietnam War” do hai đạo diễn người Mỹ là Ken Burnes và Lynn Novick thực hiện.
Những hình ảnh tàn bạo của chiến tranh, những khuôn mặt lãnh đạo, điều hành, chỉ huy gián tiếp nay trực tiếp cuộc chiến tranh Việt Nam ở mọi phía (Diễn viên chính:Việt quốc và Việt Cộng- Diễn viên phụ: Hoa Kỳ và Liên Xô…) đối với người viết cũng như hầu hết nhân dân Việt Nam cũng như người dân Hoa Kỳ có quan tâm đến cuộc chiến đều đã quá quen thuộc.
Đối với người dân Hoa Kỳ quan tâm, họ cũng đã từng coi nhiều phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam trước đây do các nhà làm phim của họ, với nhiều hình ảnh của chiến tranh được lặp lại nhiều lần, hiển nhiên là họ cũng đã có những cảm nghĩ, phản ứng tâm lý khác nhau về cuộc chiến ngoài nước Mỹ, mà con em, cha anh họ đã chiến đấu hy sinh (58.000 tử sĩ) vì lý tưởng “Tự do, dân chủ” muốn thành đạt cho người dân Việt Nam mà đã không thành. Thế nhưng đó không hẳn là thất bại đối với những nhà hoạch định chủ trương, chính sách, mục tiêu tham gia cuộc chiến Việt Nam của chính phủ Hoa Kỳ cũng như các cường quốc hàng đầu phe cộng sản(Liên Xô, Trung quốc…) trong cuộc chiến tranh ý thức hệ cộng sản và tư bản toàn cầu, khi mà các mục tiếu chiến lược họ đã đạt được tho6ngqua cuộc chiến tranh cục bộ này.
Đối với cá nhân người viết và có lẽ cũng của nhiều người Việt Nam hầu hết đã từng sống, chứng kiến hay từng là là nạn nhân của cuộc chiến, khi coi lại những hình ảnh chiến tranh quen thuộc, dù đã 42 năm sau cuộc chiến, vết thương lòng vẫn chưa lành, không khỏi cảm thấy đau sót, lòng quặn dau khi nhìn lại cảnh tàn sát giết hại nhau trong những trận chiến đẫm máu giữa người cùng màu da sắc máu Việt tộc ở cả hai bên chiến tuyến. Thật là một cuộc chiến vô ích và vô nghĩa đối với dân tộc Việt Nam. Vì cả Việt cộng cũng như Việt quốc, không bên nào thành đạt được mục tiếu tối hậu theo lý tưởng của mình, thông qua cuộc chiến “Nồi da sáo thịt” với núi xương sống máu của hàng triệu con người Việt Nam trên cả hai miền Bắc-Nam, tàn phá tan hoang đất nước, làm phân hóa dân tộc, di hại toàn diện và lâu dài cho các thế hệ mai sau..
Ước gì, từ nay vào mỗi dịp 30-4 hàng năm, ngày chấm dứt “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam, nhà đương quyền Việt Nam đừng ăn mừng như một ngày “Chiến thắng!” nữa; mà hãy chủ động đẩy nhanh tiến trình dân chủ hóa đất nước để mau chấm dứt giai đoạn cuối cùng của “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” này; là cái đuôi của “The Vietnam War”. Vì đó là mục tiêu tối hậu của ý thức hệ quốc gia về chính trị mà người Việt quốc theo đuổi trong nhiều thập niên qua. Nếu nay nhà đương quyền Việt Nam (thực chất và thực tế không còn làt cộng sản nữa) tự nguyện, tự giác, chủ động thực hiện được mục tiếu tối hậu này của Viêt quốc cũng là ý nguyện chung của toàn dân Việt, “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam sẽ chấm dứt tức thì, một cách hòa bình, không đổ máu. Tạo tiền đề thống nhất toàn lực quốc gia để xây dựng phát triển toàn diện đất nước đến phú cường, văn minh tiến bộ ngang tầm cao thời đại; và để có thế lực đập tan cuồng vọng xâm lăng bất cứ từ đâu tới, bảo vệ vững chắc Tổ Quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.​
Houston, ngày 27 tháng 9 năm 2017
  • 16x9 Image

Thiện Ý

Đề án giáo dục nhân quyền, vui mừng hay âu lo?



Đề án giáo dục nhân quyền, vui mừng hay âu lo?

21/09/2017

Một cuộc tuần hành vì nhân quyền cho Việt Nam của cộng đồng người Việt tại Canada. (Ảnh chụp từ Youtube Thu Tran)
Một cuộc tuần hành vì nhân quyền cho Việt Nam của cộng đồng người Việt tại Canada. (Ảnh chụp từ Youtube Thu Tran)
Chia sẻ
Theo tin tổng hợp giới truyền thông trong nước, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Sau giai đoạn thí điểm 2017- 2020, đến năm 2025, 100% cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân đưa nội dung quyền con người vào chương trình giảng dạy.
Đọc bản tin trên, người Việt Nam trong cũng như ngoài nước còn quan tâm đến tương lai đất nước cảm thấy vui mừng và lo âu. Cảm giác trái ngược này xuất phát từ tâm trạng bán tín, bán nghi của người dân sống quá lâu trong chế độ độc tài toàn trị mà các quyền con người bị xâm phạm, hạn chế hay bác đoạt hoàn toàn.
Người dân Việt Nam vui mừng vì nghĩ rằng nhà cầm quyền Việt Nam sau những năm dài đi theo con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa đã thất bại hoàn toàn (1975-1995), phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa từ 1995 đến nay vẫn đang tiếp tục; mà thực tế đã có những dấu hiệu tốt đẹp cho dân cho nước. Phải chăng đã đến lúc đảng CSVN cầm quyền độc tôn trong chế độ độc tài toàn trị Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam đã “phản tỉnh”, nghĩ đến phải trả lại cho nhân dân những nhân quyền cơ bản, để phù hợp với xã hội dân sự như trong các chế độ chính trị dân chủ ở các nước tư bản trên thế giới ngày nay?- Mặc dầu trong khẩu hiệu tuyên truyền, vì thể diện, đảng và nhà cầm quyền Việt Nam vẫn phải khẳng định duy ý chí, rằng quyết tâm thực hiện “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (là giả) trong khi thực tế “ Kinh tế thị trường (tất yếu) theo định hướng tư bản chủ nghĩa” (là thật).
Thế nhưng người dân Việt Nam lại không khỏi lo âu, bán tín bán nghi về Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân có thực sự theo chiếu hướng tốt đẹp trên hay chỉ là thủ thuật câu giờ, kéo dài tuổi thọ cho chế độ độc tài toàn trị (vì đề án kéo dài nhiều năm cho đến 2025…), bằng cách tạo ra sự lần tưởng rằng chế độ đang chuyển biến theo chiếu hướng dân chủ hóa đất nước, để che đậy tình trạng vi phạm quyền con người đã đến đỉnh cao của đảng và nhà cầm quyền Việt Nam; hầu xoa dịu sự bất bình, phẫn nộ của nhân dân trong nước và sự lên án gắt gao bao lâu nay của công luận quốc tế.
Vì vậy, để niềm vui của nhân dân sớm trở thành sự thật và mối lo âu của nhân dân không tồn tại, thiết tưởng điều tiên quyết là đảng và nhà đương quyền Việt Nam phải chứng tỏ bằng hành động tôn trọng các nhân quyền cơ bản của nhân dân song song với việc thực hiện Đề án gíáo dục quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vả lại, chủ đích của đề án này mà Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cho hay, là việc đưa nội dung mới này vào giảng dạy nhận được sự đồng thuận cao của phụ huynh học sinh, bởi nó giúp giới trẻ ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân cũng như tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác. Như thế hiệu quả của đề án giáo dục quyền con người này là cho các thế hệ tương lai trong tương quan giữa cá nhân người dân với nhau.
Thế còn mối tương quan giữa cá nhân người dân trong thế hệ hiện tại sống nhiều năm trong chế độ độc tài toàn trị vắng bóng quyền con người, lại không được giáo dục về quyền con người thì sao? Thiết tưởng, chính việc thực hành quyền con người của nhà cầm quyền đương thời sẽ có ích rất nhiều không chỉ cho thế hệ người dân hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai sẽ được giảng dạy để biết các quyền con người phải thể hiện thực tế thế nào cho đúng; trong tương quan giữa cá nhân người dân với nhau và giữa người dân với nhà cầm quyền.Vì rằng, trong các mối tương quan này, việc thực thi các quyền con người trong tương quan giữa nhà cầm quyền và nhân dân là quan trọng nhất và được quan tâm nhiều nhất.
Mặt khác, việc nhà cầm quyền cần khởi sự thực hiện quyền con người trong tương quan với người dân sẽ đánh tan mối lo âu khác của người dân.Đó là liệu nôi dung, ý nghĩa của Đề án giáo dục quyền con người của “đảng và nhà nước ta” có nội dung, ý nghĩa phổ quát như quyền con người đã thể hiện trong các nước có chế độ dân chủ pháp trị trên thế giới ngày nay; hay có nội dung, ý nghĩa riêng, khác biệt về quyền con người để phù hợp, củng cố cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản (đỏ vỏ xanh lòng) hiện nay tại Việt Nam?
Một điển hình mâu thuẫn về định nghĩa quyền con người phổ quát với định nghĩa quyền con người của đảng và nhà cầm quyền CSVN thể hiện trên thực tế bao lâu nay: Đó là những người dân khi bày tỏ bất đồng chính một cách ôn hòa, đấu tranh đòi nhà cầm quyền tôn trọng, thực thi các quyền dân chủ, dân sinh…vốn là quyền con người cơ bản; nhưng nhà cầm quyền đã trấn áp, bắt bớ, tù đầy vì không coi đó là quyền con người,mà kết tội là hành vi phạm pháp, chống nhà cầm quyền.
Vậy thì, để mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam tin tưởng vào Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, thay lời kết, chúng tôi xin trích phần mở đầu Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Việt Nam 1977. mà người viết được giao nhiệm vụ khởi thảo khi tham gia Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam:
Khẳng định rằng: Con người sinh ra có quyền sống và phải được sống xứng đáng với nhân phẩm và cương vị con người.
Sống xứng đáng với nhân phẩm và cương vị con người, là con người không phải chỉ sinh ra để sống như một con vật, mà còn có nhu cầu khẩn thiết hơn là phải được sống và sống tự do.
Sống tự do, là mọi người không phân biệt giai tầng xã hội, sắc tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, phải được tôn trọng, bảo vệ và hành xử các nhân quyền cơ bản đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền và Hiến chương Liên Hiệp Quốc: Quyền tự do tư tưởng, tự do chính trị, tự do kinh tế….
Vì tự do và con người là một thực thể bất khả phân: có con người là phải có tự do, thiếu nó con người sẽ sống trong lo âu sầu tủi và nhân phẩm bị hạ thấp ngang tầm loài vật!
Tiếc thay! Một dân tộc đã và đang bị hạ thấp ngang tầm loài vật: Đó là dân tộc Việt Nam. Bởi vì dân tộc này đã và đang phải sống dưới ách chế độ độc tài đảng trị, mọi nhân quyền bị chà đạp hay tước đoạt…..”
Và những dòng cuối cùng của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Việt Nam năm 1977 viết:
“Như một quy luật: Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Và rằng: Một chế độ thiết lập bằng bạo lực, duy trì bằng bạo lực, thì sớm muộn cũng bị sụp đổ do tự bản chất và do sức mạnh vùng lên của những con người bị áp bức, bóc lột.”
Thiện Ý
Houston, ngày 20 tháng 9 năm 2017
  • 16x9 Image

Thiện Ý




Luật Sư Đoàn có phải là công cụ của Đảng?

13/09/2017

Luật sư Võ An Đôn trong phiên xử vụ công an đánh chết nghi phạm Ngô Thanh Kiều
Luật sư Võ An Đôn trong phiên xử vụ công an đánh chết nghi phạm Ngô Thanh Kiều
Chia sẻ
Có người cho rằng câu trả lời đã có sẵn trong tiêu đề trên. Vì theo cơ cấu tổ chức trong chế độ độc tài đảng trị hay toàn trị cộng sản bao lâu nay ở Việt Nam, luật sư đoàn là môt tổ chức nghề nghiệp mang tính công đoàn, đương nhiên nằm trong Mặt Trần Tổ Quốc Việt Nam, là tổ chức ngoại vi của đảng CSVN, có nhiệm vụ quản lý các hoạt động của các đoàn thể chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp. Mỗi luật sư đoàn đều chịu sự lãnh đạo của chi bộ đảng, thì đương nhiên luật sư đoàn phải là công cụ của đảng CSVN chứ còn là gì nữa?
Tuy nhiên, đó là ý định chủ quan của đảng CSVN, khác với ý muốn của cá nhân các luật sư trong các luật sư đoàn tại Việt Nam. Vì vậy thực tế mới có những luật sư đã bất chấp hiểm nguy và những bất lợi cho việc hành nghề, đã có những hoạt động độc lập khi thực hiện chức năng nghề nghiệp trước các cơ quan tư pháp (như công an tư pháp, Tòa án và viện kiểm sát các cấp..) cũng như sinh hoạt trên nhiều lãnh vực ngoài xã hội. Tất nhiên, để có được những hành động độc lập tự chủ này, các luật sư thường phải trả giá bằng những khó khăn gặp phải khi hành nghề, có khi phải vào tù chỉ vì muốn bảo vệ công lý cho người dân thấp cổ bé miệng. Điển hình như các luật sư Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài đã hay đang phải ngồi tù; hay gần đây nhất là luật sư Võ An Đôn, một luật sư nổi tiếng với những vụ bào chữa miễn phí giúp phơi bày tình trạng công an đánh chết dân, có thể bị Đoàn Luật sư Tỉnh Phú Yên kỷ luật vì những phát biểu chia sẻ trên Facebook cá nhân.
Theo thông báo từ Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư Tỉnh Phú Yên gửi ngày 17 tháng 8 cho luật sư Đôn được phổ biến trên mạng xã hội, luật sư Đôn đang bị xem xét kỷ luật vì trang Facebook Đôn An Võ của anh “có nhiều bài viết, clip nói xấu luật sư” cũng như những cuộc phỏng vấn giữa anh với “các đối tượng ở nước ngoài với các nội dung kích động, xuyên tạc không đúng sự thật, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước và luật sư Việt Nam…”
Trên trang Facebook Đôn An Võ, đính kèm theo thông báo này, luật sư Đôn khẳng định quyền tự do ngôn luận của mình và tố cáo Đoàn Luật sư chịu “sự chỉ đạo từ phía cơ quan nội chính và an ninh” để tìm cách bịt miệng làm anh im tiếng, “không cho nói sự thật.”; và rằng “Luật sư có cái miệng để nói, nhưng không cho tôi nói sự thật về bản chất nghề nghiệp của mình để mọi người trong xã hội biết, thì làm sao nghề luật sư ở Việt Nam phát triển được?”.
Trong một bài viết đăng ngày 6 tháng 7 trên Facebook, luật sư Đôn chỉ trích một quy định vừa ban hành của Liên đoàn luật sư Việt Nam cấm luật sư nói và viết có hại cho chế độ đôc tài toàn trị cộng sản trên mạng xã hội, mà theo anh là nhằm bịt miệng những cá nhân luật sư ít ỏi trong giới luật sư ở Việt Nam “dám lên mạng xã hội viết bài, bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề xã hội được dư luận quan tâm.”. Luật sư Đôn bình luận “Họ sợ vì luật sư là thành phần tri thức ưu tú của xã hội, uy tín xã hội của luật sư rất lớn, luật sư nói lên sự thật và chỉ trích những chính sách sai lầm của chính quyền, cũng như việc làm sai trái của quan chức nhà nước,”
Nhiều người được biết trước đây, luật sư Võ An Đôn từng bị đe dọa kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề liên quan đến vụ án “Năm công an đánh chết dân” mà anh phơi bày và dấn thân theo đuổi công lý từ năm 2014. Luật sư Đôn được Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao giải Nhân quyền năm 2016 vì các hoạt động bảo vệ cho quyền con người, bất chấp rủi ro và đe dọa.
Như vậy là sau khi quốc hội Việt Nam trong Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 14 vào tháng 6-2017, trong lập pháp đã “cải lùi” hệ thống tư pháp Việt Nam khi giữ lại trong dự thảo sửa đổi, bổ sung nơi Điều 19, Khoản 3 Bộ luật Hình sự 2015, buộc luật sư phải tố cáo những điều thân chủ tiết lộ riêng với mình về các tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia, vi phạm trắng trợn vai trò, chức năng, bí mật nghề nghiệp của giới luật sư. Nay luật sư đoàn Phú Yên trong nghĩa vụ công cụ cho đảng và chế độ đã đưa ra quyết định có tính răn đe, rằng sẽ kỷ luật luật sư Võ An Đông do các hoạt động thể hiện trên Facebook những suy tư độc lập thuộc quyền tự do tư tưởng, ngôn luận; cũng như trong lãnh vực nghê nghiệp, vì công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho các thân chủ của mình cũng như dân oan.
Là một luật sư từng hành nghề trong ngành tư pháp chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975 và nay đang được sống tại Hoa Kỳ, một nước có tiếng là dân chủ bậc nhất trên thế giới, người viết không khỏi phẫn nộ và xin bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ những áp bức, bất công và hiểm nguy khi hành nghề với luật sư Võ An Đông và các luật sư đồng nghiệp đang hành nghề trong chế độ độc tài toàn trị cộng sản (đỏ vỏ xanh lòng) hiện nay tại Việt Nam.
Chúng tôi ước mong rằng, đất nước Việt Nam ta sớm chuyển đổi hòa bình, tịnh tiến từ chế độ độc tài đảng trị hay toàn trị hiện nay qua chế độ dân chủ pháp trị, để quyền hành nghề độc lập, tự do của giới luật sư cũng như các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam phải được nhà cầm quyền tôn trọng, bảo vệ và hành xử trọn vẹn như trong các nước dân chủ, văn minh trên thế giới ngày nay.
Thiện Ý
Houston, ngày 20-8-2017

GS Tương Lai nói thế nhưng không phải thế



GS Tương Lai nói thế nhưng không phải thế

12/09/2017

Giáo Sư Tương Lai tại tư gia ở Sài Gòn.
Nhà trí thức hàng đầu ở Việt Nam, Giáo sư Tương Lai, Cựu Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, từng là thành viên nhóm cố vấn cho các cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với Ðảng Cộng sản Việt Nam vào đúng ngày Quốc khánh mùng 2-9-2017.
Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn của Đài VOA mới đây Gs Tương Lai nói lại cho rõ là “ Tuyên bố của tôi mà một vài đài xem không kỹ, nghe không kỹ cho nên nói chưa chính xác, tôi xin nói lại, tuyên bố của tôi là dứt bỏ mọi liên hệ với đảng Nguyễn Phú Trọng thao túng để tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên Đảng Lao động, đảng của Hồ Chí Minh…”. Vì sao?
Gs Tương lai giải thích, rằng “Tôi dứt bỏ mọi liên hệ với cái đảng hiện nay, là đảng do Nguyễn Phú Trọng đang thao túng, không còn là đảng của Hồ Chí Minh nữa, để tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam, là đảng của Hồ Chí Minh. Tôi muốn nhấn mạnh điều ấy…”.
Tuyên bố và giải thích như thế, khách quan người ta phải hiểu là Ông Tương Lai chỉ rút ra khỏi đảng CSVN hiện tại của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhưng vẫn là một đảng viên cộng sản của đảng Lao Động Việt Nam (Tên gọi khác của đảng CSVN) của Hồ Chí Minh trước đây. Vì ai cũng biết việc thay tên đổi họ cho đảng CSVN vốn là một thủ thuật chính trị để đáp ứng theo đòi hỏi của tình hình thực tế. Thủ thuật này được vận dụng ngay từ khi mới thành lập đảng vào ngày 3-2-1930, với cái tên đảng CSVN, chẳng bao lâu sau đó đã vội đổi thành đảng Cộng sản Đông Dương do nhu cầu kết hợp lãnh đạo “chiến tranh cách mạng dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc” ở cả ba nước Đông Dương thuộc Pháp lúc bấy giờ là Việt-Miên-Lào; nhằm đánh đổ chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, theo chỉ thị của Đệ tam Quốc tế Cộng sản ở Moscow.
Tháng 8 năm 1945 sau khi cướp được chính quyền trên cả nước, bằng kỹ thuật vận dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân đấu tranh (vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng mà), nên không đổ máu. Sau đó, ngày 2-9-1945 lãnh tụ cộng sản Việt nam Hồ Chí Minh đã đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thành lập chính phủ liên hiệp Quốc-Cộng. Để dấu “cái đuôi cộng sản” tìm sự hậu thuẫn quốc tế và sự ủng hộ của nhân dân trong nước, ngoài nội dung bản Tuyên ngôn có câu nói nổi tiếng của lãnh tụ Hồ Chí Minh lấy ý từ bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ( Con người được Tạo hóa sinh ra có quyền tự do và bình đẳng…); và quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với bản Hiến pháp năm 1946 sau đó, đều muốn chứng tỏ Việt Nam là một quốc gia độc lập, với chế độ dân chủ pháp trị theo ý thức hệ dân chủ Phương Tây, nên đảng Cộng sản Đông Dương, giả vờ giải tán ngày 11/11/1945, mà thật ra là rút lui vào hoat động bí mật.
Sở dĩ phải dấu “cái đuôi cộng sản” vì lúc đó Thế Chiến II vừa kết thúc, thế lực của các cường quốc dân chủ tư bản Phương Tây đứng đầu là Hoa Kỳ vẫn bao trùm thế giới. Cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mới manh nha và chủ nghĩa cộng sản bị coi là hiểm họa của toàn thế giới. Liên-Xô sau trở thành đối cực của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu này, lúc đó còn yếu kém, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa chưa hình thành, đảng CSVN chưa có chỗ dựa vững chắc nên cần hậu thuẫn của các cường quốc dân chủ tư bản Phương Tây cho nền độc lập còn mong manh mới hình thành. Đối với nhân dân trong nước, chủ nghĩa cộng sản còn xa lạ, lại bị hàng ngũ lãnh đạo kháng chiến chống Pháp mang ý thức hệ quốc gia tuyên truyền về hiểm họa của chủ nghĩa cộng sản vô thần, với chủ trương “tam vô” (vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo…) nên rất sợ cộng sản.
Sau Hiệp Định Genève ngày 20-7- 1954 chia đôi đất nước, mặc dầu cộng sản Bắc Việt đứng hẳn về phe xã hội chủ nghĩa, nhưng đảng CSVN vẫn phải dấu “cái đuôi cộng sản”. Do đó, Đảng Lao Động đã ra đời tháng 2/1951 chỉ là cái mặt nạ của đảng CSVN. Bảng hiệu chế độ vẫn là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà thực tế cũng như thực chất đã và đang xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa theo kiểu Liên-Xô vá víu với Trung cộng. Sự che dấu sống sượng này chỉ là vì Ông Hồ và đảng CSVN vẫn muốn sử dụng lập trường “ngụy dân tộc” từ thời kháng chiến chống Pháp, để khơi dạy, lừa mị và lợi dụng lòng yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân, phát động và tiến hành cái gọi là “Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước” dưới ngọn cờ “ giải phóng dân tộc” ở Miến Nam Việt Nam. Trong khi thực tế cũng như thực chất cuộc chiến tranh do CSBV phát động sau năm 1954 chỉ là một cuộc chiến tranh thừa sai, làm nhiệm vụ công cụ tri tình cho quốc tế cộng sản, nhuộm đỏ Miền Nam hầu thỏa mãn tham vọng cộng sản hóa toàn cầu của hai tân đế quốc Đỏ Nga-Tàu.(mà thực tế nay thì đã thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn, chủ nghĩa cộng sản đang ở vào giờ thứ 25)
Tất cả sự thật trên đã được phơi bày sau ngày 30-4-1975 khi CSBV cưỡng chiếm được Miền Nam, đưa cả nước “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”; và bảng hiệu đảng Lao Động Việt Nam được đổi thành đảng Cộng sản Việt Nam theo đúng tên gọi đầu tiên mới thành lập vào ngày 3-2-1930.Đồng thời, hai đảng Dân Chủ của Nghiêm Xuân Yêm và đảng Xã Hội của Nguyễn Xiển do đảng CSVN dựng lên để trang trí bộ mặt giả tạo như là một chế độ dân chủ cộng hòa đa nguyên,đa đảng cũng bị giải tán. Vì “vai trò lịch sử” đã chấm dứt như lý do được đảng CSVN đưa ra sau ngày 30-4-1975 để giải tán hai đảng cò mồi này, cùng lúc khai tử công cụ quân sự “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” và công cụ chính trị “Chính phủ Cách Mạng Lâm thới Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Tất cả sự thật lịch sử và thực tiễn trên đây, về thủ thuật thay tên bảng hiệu đảng CSVN lúc này lúc khác, người dân thường ai cũng biết. Tất nhiên Gs. Thương Lai, một đảng viên CS kỳ cựu, từng nắm nhiều chức vụ quan trọng hàng đấu lãnh vực tư tưởng marxist-Lêninnist, hơn ai hết phải biết đảng Lao Động Việt Nam của Hồ Chí Minh trước đây và đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Phú Trọng hiện nay vẫn là một.
Thành ra, Gs Tương Lai nói thế, nhưng không phải thế đâu. Vì sao?
Theo nhận định của chúng tôi và có lẽ cũng của nhiều người, Gs. Tương Lai nói thế có thể là vì:
1.- Về mặt tâm lý, dường như Gs Tương Lai muốn diễn đạt sự ly khai khỏi đảng CSVN theo cách biểu tỏ của một tín đồ tôn giáo ly khai khỏi giáo hội vì mất đức tin, nhưng vẫn không dám công khai thừa nhận mình đã mất đức tin, mà lại nói lý do ly khai khỏi tổ chức giáo hội là vì các tăng lữ lãnh đạo đã điều hành giáo hội sai trái với tín lý, tín điều của giáo hội và giáo chủ tiền nhiệm.
Theo đó, Gs Tương Lai thực sự cũng đã mất tin tưởng vào lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, vào vai trò “Đội tiên phong của giai cấp công nhân hay vô san” của đảng CS, nên đã ly khai khỏi đảng CSVN, nhưng bề ngoài vẫn phải nói chỉdứt bỏ mọi liên hệ với cái đảng hiện nay, là đảng do Nguyễn Phú Trọng đang thao túng…”nhưng vẫn “tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên Đảng Lao động, đảng của Hồ Chí Minh…”.
2.- Về mặt thực tế, Gs Tương Lai phải dùng cách biểu tỏ trên có thể chỉ là cách tự vệ, muốn tạo vỏ bọc bằng hình tượng Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, để đảng và nhà cầm quyền CSVN không có lý cớ trấn áp thô bạo, triệt hạ Ông quyết liệt như một tênphản động, ly kha, chống đảng”.
Vì Ông vẫn “…tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam, là đảng của Hồ Chí Minh”. Vì đảng CSVN hiện nay “ là đảng do Nguyễn Phú Trọng đang thao túng, không còn là đảng của Hồ Chí Minh nữa,…”. Do đó,việc tiếp tục chiến đấu với tư cách đảng viên đảng Lao Động của Ông không có nghĩa là ly khai khỏi đảng; và việc “tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên Đảng Lao độngViệt nam” vẫn mang tính chất “đấu tranh nội bộ đảng” mang tính xây dựng để giải quyết mâu thuẫn nội bô (đảng) chứ không phải là một “mâu thuẫn đối kháng” (một mất một còn). Về nguyên tắc Gs Tương Lai vẫn trung thành với lý tưởng cộng sản của “Đảng Ta”; có phản đảng, chống đảng gì đâu mà trấn áp bỏ tù Ông được. Vì vậy về thực tế, người ta cho rằng Gs Tương Lai nói thế chứ không phải thế đâu.
Thực tế là, trong nhiều năm qua Gs Tương Lai đã có các hoạt động tham gia biểu tình chống Trung quốc xâm lược, có nhiều bài viết là tuyên bố mang tính cổ vũ và đấu tranh cho các quyền tự do, dân chủ, dân sinh và nhân quyền theo chiếu hướng dân chủ hóa đất nước.Điều này cho thấy từ lâu Ông (cũng như rất đông đảng viên CS khác còn dấu mặt) đã là một “đảng viên cộng sản phản tỉnh”, đã “mất đức tin cộng sản chủ nghĩa”. Thê nhưng cách biểu tỏ của Ông người ta cho rằng chỉ là sự “ phản tỉnh nửa vời” (về nhận thức), chứ chưa “Phản tỉnh hoàn toàn” ( cả nhận thức lẫn hành động quyết liệt, triệt để) góp phần hiệu quả tạo được chuyến biến có ý nghĩa cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam một cách hòa bình, theo quy luật “ Lượng đổi (lượng dân chủ thay thế dần lượng độc Tài) chất đổi (chất độc tài tiêu vong, chất dân dân chủ lên ngôi) ; như nước đun sôi đến 100 độ thì phải bốc hơi thôi. Đó là quy luật mà, những người cộng sản bảo thủ, ngoan cố và duy ý chí cách mấy rồi đây cũng không thể cưỡng lại được đâu.
Dẫu sao việc công khai tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với cái đảng hiện nay, là đảng do Nguyễn Phú Trọng đang thao túng…”của Gs Tương Lai, một đảng viên CS kỳ cựu, một trí thức hàng đầu từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong guồng máy công quyền chế độ độc tài toàn trị đương thời tại Việt Nam đã là một hành động dũng cảm rất đáng ca ngợi. Hành động quả cảm này như tiếng chuông cảnh tỉnh các đảng viên cộng sản chân chính khác sớm có hành động thức thời để cứu dân cứu nước.
Thiện Ý
Houston, ngày 9 tháng 9 năm 2017