Thursday, October 10, 2019

Quốc dân Việt Nam muốn biết, vì sao?



Quốc dân Việt Nam muốn biết, vì sao?

05/10/2019

Ông Phạm Bình Minh đọc diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, New York, 28 tháng Chín.
Ông Phạm Bình Minh đọc diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, New York, 28 tháng Chín.

  •  


  •  

Thiện Ý

- Từ những sự kiện thực tế,
- Quốc dân Việt Nam muốn biết vì sao?
Đó là nội dung bài viết này,
I - TỪ NHỮNG SỰ KIỆN THỰC TẾ
Những sự kiện thực tế đó là, trong nhiều năm qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã nhiều lần ra những quyết định pháp lý, hành chánh và bằng hành động quân sự bạo lực xâm chiếm nhiều vùng lãnh thổ và lãnh hải, biển đảo của Việt Nam, vi phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ lãnh hải biển đảo Việt Nam và vi phạm công ước quốc tế cũng như các hiệp định song phương về biên giới lãnh thổ và lãnh hải giữa hai nước Việt - Trung đã ổn cố và được tôn trọng từ hàng thế kỷ qua.
Thực tế là Trung Quốc đã dùng bạo lực tấn công, chiếm đoạt một phần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, lúc đó thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam trong bối cảnh đất nước chia đôi, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng Nam và Bắc Việt Nam; và năm 1988 tấn công, chiếm đoạt đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam sau khi Việt Nam thống nhất dưới chế độ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đặc biệt nghiêm trọng và gần nhất là vụ Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu khảo sát và các tàu hộ tống vào khu vực Bãi Tư Chính thuộc thềm lục địa và khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, lưu lại ở đây trong nhiều tháng qua, vào ra như vùng “ao nhà” của họ; tiến hành thăm dò dầu khí bất hợp pháp trong vùng biển thuộc thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đồng thời, người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung Quốc hôm 18-9-2019 còn ngang nhiên tuyên bố chủ quyền sai trái tại vùng này và đòi Việt Nam phải tôn trọng; cũng như trước đó đơn phương tuyên bố chủ quyền “9 đoạn” chiếm hầu hết Biển Đông, theo kiểu quân cướp nước “vừa ăn cướp vừa la làng”.
Hành động xâm phạm chủ quyền lãnh hải, hải đảo của Việt Nam mới nhất này, nhưng vẫn chưa phải là hành động cuối cùng, Trung Quốc đã ỷ mạnh hiếp yếu, vi phạm trắng trợn quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế Công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển, mà Trung Quốc đã ký và cam kết thi hành. Đồng thời Trung Quốc cũng vi phạm các quy định của Tuyên bố chung về ứng xử của các bên đang có tranh chấp trong biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã cùng ASEAN ký kết năm 2002. Theo đó, DOC quy định tạm thời các bên phải tự kiềm chế, duy trì nguyên trạng, không làm phức tạp thêm tình hình, không được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp.
II - QUỐC DÂN VIỆT NAM MUỐN BIẾT VÌ SAO?
Đứng trước các sự kiện thực tế trên, quốc dân Việt Nam (những công dân của Tổ quốc Việt Nam) trong cũng như ngoài nước muốn biết:
1 - Vì sao trong bài phát biểu hôm 28/9 tại phiên họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Phó Thủ tường kiêm Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã không chỉ đích danh Trung Quốc, như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam dưới quyền ông trong những tháng qua đã nhiều lần cáo buộc đích danh Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam?
Vì tại phiên họp này, ông Minh chỉ nói "Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng quan ngại về những diễn biến phức tạp gần đây ở Biển Đông bao gồm những vụ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền tài phán ở vùng biển Việt Nam" và rằng "các nước liên quan nên kiềm chế, tránh các hành động đơn phương có thể làm phức tạp hoặc làm tăng thêm căng thẳng trên biển."
Quốc dân Việt Nam quan tâm đều cảm thấy thất vọng trước cách hành xử này của nhà đương quyền Việt Nam thể hiện qua bài phát biểu của người đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam, trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc; là đã đánh mất một cơ hội cáo buộc Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền biển đảo của mình để tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế trong tranh chấp Biển Đông.Trong khi Việt Nam đã và đang đi tìm kiếm sự hậu thuẫn quốc tế để có thế lực đương đầu, ngăn chặn tham vọng xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải biển đảo Việt Nam của Trung Quốc, luôn ỷ thế mạnh “bắt nạt Việt Nam” và các nước nhỏ yếu khác trong vùng.
2 - Vì sao, cũng trong bài phát biểu dài 16 phút, Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh có đề cập đến chủ trương chính sách giải quyết tranh chấp lãnh thổ lãnh hải biển đảo một cách hòa bình theo tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc và căn cứ trên luật pháp quốc tế như Công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển; lại không vận dụng ngay vào việc giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam khi cả hai nước Việt –Trung đều là hội viên Liên Hiệp Quốc?
Nói cách khác, tại sao Việt Nam không “quốc tế hóa việc tranh chấp” trên Biển Đông với Trung Quốc” như nhận định của Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales. ?
Ông Phạm Bình Minh nói Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan ở Biển Đông tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) – ‘Hiến chương của Biển và Đại dương’,
Thế tại sao giờ này Việt Nam vẫn rụt rè như “gà phải cáo”, hay “vừa tố cáo vừa run”, vẫn không dám đưa vụ tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra trước Liên Hiệp Quốc hay trước các tòa án quốc tế có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế?
3 - Vì sao đến giờ này Quốc hội Việt Nam mệnh danh là cơ quan quyền lực tối cao của nhân dân, đẻ ra chính phủ, nhất là Ông Tổng Trọng người lãnh đạo tối cao Đảng, Quốc Hội và chính phủ thì vẫn im hơi lặng tiếng, không dám lên tiếng; lại chỉ để cho người phát ngôn Bộ ngoại giao Lê Thị Thu Hằng gần đây mới lên tiếng tố cáo đích danh Trung Quốc vi phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo của Việt Nam; còn người đứng đầu Bộ ngoại giao Phạm Bình Mình thì trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc lại tránh né không dám gọi đích danh “Ông Trung Quốc” vì sợ “phạm húy” chăng?
Trong bài viết trước “Đến Non Nước Này Quốc Hội Việt Nam cần và phải lên tiếng” chúng tôi có đề nghị đôi điều Quốc hội cần làm ngay, thiết nghĩa không cần nhắc lại ở đây.
III - THAY LỜI KẾT
Với trách nhiệm bảo vệ đất nước, quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước đòi hỏi Đảng, Quốc hội, chính phủ đương quyền phải:
- Một là thực hiện khẩn cấp mọi đối sách chính trị, ngoại giao, pháp lý, quân sự kiên quyết, để tranh thủ sự hậu thuẩn mạnh mẽ của quốc tế, tạo thế lực chặn đứng các hành động xâm lăng trắng trợn ngày càng gia tăng của nhà cầm quyền Trung Quốc.
- Hai là, nhà cầm quyền Việt Nam cần cấp thời đưa những vi phạm chủ quyền lãnh thổ lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc ra trước Liên Hiệp Quốc. Vì cả Trung Quốc và Việt Nam đều là hội viên Liên Hiệp Quốc.Đồng thời, đưa vụ việc tranh chấp chủ quyền ra trước các cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền, để giải quyết tranh chấp một cách hoà bình theo tinh thần Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, căn cứ trên Công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển, và bản Tuyên bố chung về ứng xử của các bên đang có tranh chấp trong biển Đông (DOC) năm 2002.
- Ba là, nhà cầm quyền Việt Nam cần phải thay đổi đường lối cai trị, mở rộng tự do, dân chủ, thả hết các tù nhân chính trị, tôn giáo, bất đồng chính kiến đang bị cầm tù và chấm dứt đàn áp, bắt bớ giam cầm những người đấu tranh ôn hòa cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, để đoàn kết toàn dân, huy động toàn lực quốc gia vào công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.
Thiện Ý
Houston, ngày 2-9-2019

Đến non nước này, Quốc Hội Việt Nam cần và phải lên tiếng



Đến non nước này, Quốc Hội Việt Nam cần và phải lên tiếng

23/09/2019

Nhóm nhân sỹ mang Tuyên bố Biển Đông đến Quốc hội đứng trước tòa nhà Bộ Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội hôm 8/8/2019. (Ảnh chụp video đăng trên Facebook Nguye
Nhóm nhân sỹ mang Tuyên bố Biển Đông đến Quốc hội đứng trước tòa nhà Bộ Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội hôm 8/8/2019. (Ảnh chụp video đăng trên Facebook Nguye

  •  


  •  

Thiện Ý

- Đến non nước gì?
- Vì sao Quốc hội Việt Nam cần và phải lên tiếng, lên tiếng thế nào?
Đó là nội dung bài viết này.
1 - ĐẾN NON NƯỚC GÌ?
Non nước đã và đang bị ngoại bang Phương Bắc xâm lấn bờ cõi trên đất liền và hải đảo của nước ta, một cách tịnh tiến, có hệ thống, ngày một nghiêm trọng, bằng đối sách “lá mặt lá trái” (bề ngoài hữu hảo, thực tế bất hảo) được che đậy bằng khẩu hiệu“ 4 Tốt, 16 Chữ vàng”, như một định thức cưỡng hành làm nền tảng cho quan hệ Việt Trung. Đồng thời, khẩu hiệu này ví như “ Vòng Kim cô Đỏ(hay “sợi chỉ Đỏ xuyên suốt” như cách gọi của “Đảng Ta” ) như “giây thòng lọng” mà Trung Quốc dùng để cột chặt đảng Cộng sản Việt Nam bao lâu nay, vào vòng cương tỏa, từ quá khứ chiến tranh, đến hiện tại hòa bình, để lèo lái đảng CSVN như một công cụ thực hiện sách lược “tằm ăn rỗi” để thành đạt ý đồ xâm lược Việt Nam một cách từ từ và êm dịu. Nghĩa là Trung Quốc muốn thực hiện chủ trương cắt xén từng phần, đồng hóa từng bước, biến Việt Nam thành một “thuộc địa kiểu mới”, thực hiện giấc mộng chưa thành trong quá khứ lịch sử hàng ngàn năm Viêt Nam bị “nô lệ giặc Tàu”.
Để thực hiện ý đồ trên, Trung Quốc trong nhiều năm qua đã ngang nhiên lấn chiếm lãnh thổ trên đất liền và các hải đảo của Việt Nam. Cụ thể gần nhất, nhưng vẫn chưa phải là hành động cuối cùng, là vụ Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu khảo sát và các tàu hộ tống vào khu vực Bãi Chính thuộc thềm lục địa và khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, để tiến hành thăm dò dầu khí bất hợp pháp trong vùng biển tranh chấp, ngăn cản Việt Nam hợp đồng khai thác tài nguyên trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt nam với các nước ngoài. Đây là một vi phạm trắng trợn quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế Công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển.
Chính tình thế trên, như giọt nước làm tràn ly, chính phủ Việt Nam đã chính thức lên tiếng phản đối kiên quyết,đích danh Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, chứ không mơ hồ, tránh né như bao lâu nay. Đồng thời bày tỏ quyết tâm và hành động bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình. Thái độ và hàng động kiên quyết này đã được quốc tế, đứng đầu là cường quốc Hoa Kỳ, mau chóng lên tiếng ủng hộ và sẵn sàng trợ giúp Việt Nam ngăn chặn Trung Quốc ỷ mạnh “bắt nạt Việt Nam” và các nước nhỏ yếu trong vùng có chung hiểm họa Trung Quốc xâm lược. Nhờ đó dường như tham vọng xâm lấn của Trung Quốc đã bị khựng lại, nhưng chưa hẳn đã từ bỏ tham vọng lấn chiếm Biển Đông, coi như “ao nhà của chúng.
Đó là tình trạng “nước non Việt Nam” hiện nay trước họa ngoại xâm, đòi hỏi Quốc hội Việt Nam không thể giữ im lặng, mà cần và có bổ phận phải lên tiếng. Vì sao?
II - VÌ SAO QUỐC HỘI CẦN LÊN TIẾNG VÀ LÊN TIẾNG THẾ NÀO?
1 - Quốc hội Việt Nam cần và phải lên tiếng.
- Vì theo Hiến pháp hiện hành “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.(Điều 69). Một trong các nhiệm vụ về đối ngoại là “Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia...” (Điều 70 Điểm 14 HP. 2013)
- Vì Chính phủ nắm quyền hành pháp do Quốc Hội cử ra đã mạnh mẽ lên tiếng, thì Quốc hội không thể im lặng, phải lên tiếng hậu thuẫn Chính phủ, đáp ứng đúng nguyên vọng nhân dân.
- Vì nhân dân đòi buộc những đại biểu của mình phải làm nhiệm vụ dân cử, nói lên nguyện vọng và thực hiện quyết tâm của toàn dân bảo vệ từng tấc đất, tấc biển đảo của Tổ Quốc Việt Nam trước họa ngoại xâm bất cứ từ đâu tới.
- Vì tiếng réo gọi của Hội Nghị Diên Hồng, như một quốc hội đại biểu của nhân dân trong quá khứ lịch sử năm xưa đời Nhà Trần (1282) được Vua Trần Thánh Tông triệu tập (1282) để lên tiếng thể hiện quyết tâm của toàn dân chống họa xâm lăng của quân Nguyên.(*). Nguyện vọng và quyết tâm ấy đã được cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thể hiện trong lời ca tiếng nhạc hào hùng:
“Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
Quyết chiến ! Quyết chiến!
Dù :
Thế nước yếu lấy gì mà lo chiến trinh?
Hy sinh! Hy sinh!
Liều thân cho sông núi muôn danh lừng uy!”
Và lịch sử đã chứng minh, không cần viết ra, mọi người dân Việt đều biết, chính sự đoàn kết, hy sinh trên dưới một lòng của toàn dân, dù thế yếu, Tổ Tiên chúng ta đã đánh bại các cuộc ngoại xâm thế lực mạnh hơn chúng ta bất cứ từ đâu tới, bảo vệ được Đất Nước giang sơn bờ cõi hình chử S, bên bờ Thái Bình Dương cho đến nay.
2 - Quốc Hội Việt Nam cần lên tiếng thế nào?
Chúng tôi đề nghị những việc Quốc Hội Việt Nam cần làm ngay:Triệu tập một phiên họp đặc biệt, trong khóa họp thường kỳ hay bất thường, bàn thảo, biểu quyết, công bố trước toàn dân và quốc tế, một “Nghị Quyết về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Việt Nam”.
Nội dung Nghị Quyết:
(1) Căn cứ trên các bằng chứng lịch sử, pháp lý, quản trị hành chánh, phù hợp với Công pháp Quốc tế và tập quán quốc tế, Quốc hội Việt Nam xác định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên đất liên và biển đảo của Việt Nam không thể tranh cãi.
(2) Xác định các vùng đất liền và biển đảo của Việt Nam bị Trung Quốc cưỡng chiếm bằng bạo lực năm 1974 (thuộc quần đảo Hoàng Sa) và 1988 (Thuộc quần đảo Trường Sa) là phi pháp. Việt Nam sẽ bảo lưu quyền chủ quyền, quyến tài phán để các quyền này không bị thời tiêu, dù Trung Quốc có chiếm cứ bao lâu đi nữa, Việt Nam vẫn có quyền phát động tố quyền đòi lại chủ quyền trước các Tòa án quốc tế có thẩm quyền.
(3) Phủ nhận hiệu lực pháp lý của bất cứ văn kiện ngoại giao nào liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo Việt Nam trong quá khứ, khi chưa được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn, theo thủ tục công pháp và tập quán quốc tế, phù hợp với quy định của Hiến pháp Việt Nam.
Điển hình như công hàm ngoại giao do cố Thủ Tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký nằm 1957 liên quan đến việc tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc. Công hàm này chỉ có giá trị ngoại giao vì lợi ích chính trị nhất thời, không có hiệu lực lâu dài về pháp lý cũng như thực tế. Vì văn kiên ngoại giao này chưa bao giờ được phê chuẩn bởi Quốc Hội Miền Bắc trong thời chiến, cũng như Quốc hội thống nhất đất nước sau cuộc chiến Việt Nam.
Vả lại, cũng vì cuộc chiến tranh Quốc-Cộng giữa hai bên là người Việt Nam, trong bối cảnh cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa hai phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc, với phe tư bản chủ nghĩa, đứng đầu là Hoa Kỳ. Cộng sản Bắc Việt thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Quốc gia Nam Việt thuộc phe tư bản chủ nghĩa hay “Thế giới tự do”. Vì thế, công hàm của Thủ tướng chính phủ Miền Bắc XHCH Phạm Văn Đồng chỉ có ý nghĩa lên tiếng tán đồng tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông của Chu Ấn Lai, Thủ tướng chính phủ Trung Quốc cùng phe XHCN lúc bấy giờ. Do đó công hàm Phạm Văn Đồng chỉ có giá trị ngoại giao, vì lợi ích nhất thời cho phe XHCN, để Trung Cộng được rộng quyền trên Biển Đông giúp CSBV thực hiện “nghĩa vụ quốc tế CS” nhuộm đỏ Miền Nam. Dường như khi ký công hàm này, ông Phạm Văn Đồng cũng chỉ nghĩ đến lợi ích chính trị, ngoại giao nhất thời, với tin tưởng rằng, sau chiến tranh chủ quyền biển đảo của Việt Nam vẫn là của Việt Nam. “Đồng chí” Trung Quốc chỉ tạm thời chiếm giữ các hải đảo để “Đảng ta và nhà nước ta”” rãnh tay “đánh Mỹ, cộng sản hóa Miền Nam, mở mang bờ cõi cho các tân đế quốc CS Nga-Tàu. Vì Việt nam “đánh Mỷ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” như cố Tổng Bí Thư Dảng CSVN Lê Duẩn từng uất ức khẳng định sau chiến tranh.
4 - Lệnh cho Chính phủ soạn thảo và công bố “Sách Trắng” về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải và biền đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Đồng thời Bộ Ngoại Giao cần chuẩn bị hồ sơ đưa vụ tranh chấp này ra trước cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền, như chính phủ Philippin đã làm và đem lại thắng lợi về mặt pháp lý mấy năm trước đây. Mặc dầu thực tế Trung Quốc đã đơn phương phủ định, nhưng chính thắng lợi này, đã là một án lệ hữu ích giúp Việt nam thắng lợi trước cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền trong tương lai; giúp Việt Nam có thêm cơ sở pháp lý vững chắc về chủ quyền lãnh thổ lãnh hải để bảo lưu tố quyền đòi lại trong tương lai khi có thời cơ thuận lợi, buộc được Trung Quốc phải thực thi.
III - KẾT LUẬN.
Đến non nước này, chính phủ Việt Nam đã lên tiếng dứt khoát, cương quyết, chẳng lẽ Quốc hội Việt Nam “là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.(Điều 69 HP. 2013).lại tiếp tục im hơi lặng tiếng sao?
Câu trả lời và hành động thực tiễn, xin dành cho bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và các đại biểu Quốc hội Việt nam đương nhiệm đang ăn lương của dân, làm việc cho dân, có trách nhiệm, bằng mọi cách bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, đất liền cũng như biển đào, vốn là si sản của tiền nhân tạo dựng bằng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu nữa đó. Thưa Quý Đại Biều nhân dân.
Thiện Ý
(*) Tháng Chạp năm Giáp Thân (1-1285), Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông xuống chiếu mở một cuộc hội nghị hết sức quan trọng ở điện Diên Hồng, sử gọi đó là hội nghị Diên Hồng. Tham dự hội nghị này là các vị bô lão, đại diện cho nhân dân cả nước.
Sau thất bại của cuộc xâm lăng lần thứ nhất (1258), và sau nhiều năm xét thấy không thể mua chuộc hay hù dọa triều Trần, cuối năm 1284, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt quyết định xua quân sang xâm lược nước ta lần thứ hai. Lúc này, do cuộc thôn tính Trung Quốc đã xong, đường tiến quân xâm lược của giặc có phần thuận lợi hơn. Với 50 vạn tên từ phương Bắc xuống và với non 10 vạn tên từ phía Nam đánh lên, giặc hi vọng sẽ nhanh chóng bóp nát Đại Việt.
Thấy rõ dã tâm của giặc, ba năm trước đó (1282), triều Trần đã triệu tập quý tộc và tướng lĩnh cao cấp đến họp ở Bình Than để bàn phương hướng chiến lược chống xâm lăng và quyết định việc xây dựng bộ máy chỉ huy chống xâm lăng. Tháng 11 năm 1284, triều Trần lại cử Trần Phủ cầm đầu phái bộ sứ giả sang triều đình nhà Nguyên với mục đích chủ yếu là tìm kế hoãn binh giặc, nhưng việc ấy không thành. Tháng Chạp năm Giáp Thân (1-1285), Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông xuống chiếu mở một cuộc hội nghị hết sức quan trọng ở điện Diên Hồng, sử gọi đó là hội nghị Diên Hồng. Tham dự hội nghị này là các vị bô lão, đại diện cho nhân dân cả nước. Thượng hoàng đích thân ban yến và hỏi các vị bô lão là nên đánh hay nên hòa. Một đời thân phận thấp hèn, tay bùn chân lấm, nay bỗng dưng được triều đình mời vào tận hoàng cung để bàn quốc gia đại sự, tinh thần của các vị bô lão phấn chấn khác thường. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 5, tờ 44 a) chép: "Các cụ bô lão đều nói đánh, muôn người cùng một tiếng, muôn lời như bật ra từ một miệng".
Về cuộc hội nghị độc đáo này, sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn như sau: "Giặc Hồ vào cướp là nạn lớn của đất nước. Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn, há lại không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi ban yến rồi hỏi kế sách ở các bô lão hay sao? Ấy bởi Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân và cũng để dân nghe lời dụ hỏi mà cảm kích rồi hăng hái lên thôi. Đó là giữ được cái nghĩa của cổ nhân, kính dưỡng người già để xin lời hay vậy" (Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển 5, tờ 44 b).
Người kể chuyện xin có một chú thích: Ở đây, giặc Hồ chính là giặc Mông Nguyên.
Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần

Tuesday, September 10, 2019

Đã đến lúc Việt Nam chấm dứt đối sách ‘đi dây’ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ

Đã đến lúc Việt Nam chấm dứt đối sách ‘đi dây’ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Bắc Kinh, 25/4/2019. Photo VTC via Chinhphu.vn
Thiện Ý

- Đối sách đi dây của Việt Nam giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là gì?
- Vì sao Việt Nam đã đến lúc cần chấm dứt đối sách đi dây?
- Trong bối cảnh hiện nay, đối sách nào thích dụng cho Việt Nam?

Đó là nội dung chúng tôi lần lượt trình bày trong bài viết này.

I - ĐỐI SÁCH ĐI DÂY CỦA VIỆT NAM GIỮA TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ LÀ GÌ?
1 - Đối sách đi dây
Theo sự hiểu biết của chúng tôi, “Đi dây” là hình ảnh một nghệ nhân đi dây trong một gánh xiệc, tay cẩm một xào ngang hay tay không dang ngang đi trên một dây căng thẳng, cố giữ thăng bằng không nghiêng về phía nào để khỏi té. Có lẽ hình ảnh này đã được người ta gọi có tính hình tượng của chính sách đối ngoại của một quốc gia cùng lúc có mối quan hệ song phương với hai quốc gia khác, cố gắng giữ thăng bằng trong cách ứng xử, để không bị coi là thiên lệch bên nay hay bên kia. Để thực hiện chính sách đối ngoại đi dây này với Trung Quốc và Hoa Kỳ, trên nguyên tắc Việt Nam đưa ra một chính sách đối ngoại đa phương trung lập, với chủ trương cụ thể “ba không” (Không tham gia liên minh quân sự với nước nào, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, và không về phe nước nào chống lại một nước khác).
Thế nhưng thực tế trong quan hệ song phương, Việt Nam vẫn phải theo đuổi chính sách đi dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Nghĩa là trên nguyên tắc đều muốn thể hiện sự quân bình trong đối sách với Trung Quốc cũng như Hoa Kỳ trên mọi lãnh vực. Nhưng thực tế trong cách ứng xử, đôi khi Việt Nam vẫn tỏ ra thiên lệch nhiều hơn về phía Trung Quốc. dè dặt hơn về phía Hoa Kỳ, như muốn chứng tỏ với “đồng chí xấu bụng và nhiều tham vọng Trung Quốc”, rằng Việt Nam lúc nào cũng coi trọng mối quan hệ với Trung Quốc hơn Hoa Kỳ.Với chủ trương “3 không” về quân sự an ninh quốc phòng, như một lời cam kết làm an lòng Trung Quốc, rằng Việt Nam sẽ không liên minh với Hoa Kỳ và bất cứ nước nào để chống lại Trung Quốc.
2 - Vì sao Việt Nam phải đi dây?
Vì bắt nguồn từ sự ràng buộc của quá khứ chiến tranh xa gần đối với Trung Quốc và Hoa Kỳ có khác biệt.
- Đối với Trung Quốc từng là “đồng chí anh em”, Việt-Trung có cùng quá khứ và vận mệnh tương lai, như lãnh tụ Cộng đảng đương thời Trung quốc Tập Cận Bình nhiều lần nhắc nhở với cộng đảng Việt Nam mỗi khi có dịp.
Do đó, trên thực tế, đối xử với cựu thù Hoa Kỳ trong chiến tranh phải có khác, để không phật ý và bị nghi ngờ về lòng trung thành cố hữu của Việt Nam với Trung Quốc. Chẳng thế mà, trước khi làm điều gì liên quan đến Hoa Kỳ, Hà Nội luôn tham khảo trước với Bắc kinh cách này cách khác. Tỷ dụ, trong các chuyến công du Hoa Kỳ của các lãnh đạo hàng đầu đảng và nhà nước CSVN trước đây, thường là họ phải ghé qua Bắc Kinh trước khi đến Washington.Không biết trong chuyến Mỹ du dự trù vào tháng 10-2019 tới đây của Tổng Tịch Nguyễn Phú Trọng có ghé Bắc Kinh trước khi đến Washington hay không là câu hỏi được nhiều người đặt ra?
Vì thế, trong quan hệ song phương với Trung Quốc, Việt Nam vẫn nêu cao và cố gắng thực hiện khẩu hiệu “4 Tốt và 16 Chữ vàng” có từ thời chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam (1954-1975) do các lãnh tụ hàng đầu của hai đảng, hai nhà nước Việt (Hồ Chí Minh) và Trung (Mao Trạch Đông) xác lập như một định ước có giá trị cưỡng hành mặc nhiên không thể tranh cãi.
Vì trong bối cảnh quá khứ này, Việt cộng đã lệ thuộc nặng nề vào hai đế quốc cộng sản Nga-Tàu đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa. Do phải thực hiện cuộc chiến tranh xâm chiếm cộng sản hóa Miền Nam của bên Việt quốc, để làm tròn “nghĩa vụ quốc tế cộng sản”, Việt cộng ở Miền Bắc đã nhận sự chi viện toàn diện “sức người sức của”, như vũ khí, đạn dược, lương thực, tài lực, nhân lực của “phe xã hội chủ nghĩa” chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc. Trong đó nhiều nhất là Trung cộng chiếm đến 3/4 chiến phí như tổng kết sau chiến tranh để làm căn cứ cho Bắc Kinh đòi nợ khẩn cấp, chỉ vài năm sau kết thúc chiến tranh Việt Nam. Là vì khi đó, đảng CSVN thời cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã (dại dột?) dứt khoát chọn Liên Xô là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của mình. Sự lựa chọn dứt khoát này đã khiến Bắc kinh nổi giận “kẻ bạc tình, tham phú phụ bần”, nên không chỉ đòi nợ khẩn cấp (khiến cả nước không đủ lương thực phải ăn độn ngô khoai và bo- bo vốn là đồ ăn dành cho súc vật được Liên Xô viện trợ cứu đói…); mà còn dùng công cụ Khmer Đỏ Pon Pot, Ieng Sari quấy phá biên giới phía Tây Nam, gài thế cho cộng sản Việt Nam ngã sấp mặt và sa lầy hơn 10 năm vào chiến trường Kampuchia (1978-1989). Hệ quả là đã gây nhiều tổn thất nhân mạng, tài lực và tạo thêm nhiều khó khăn thời hậu chiến về đối nội (toàn diện về chính trị,quân sự, kinh tế, xã hội…) cũng như đối ngoại cho cộng sản Hà Nội ( Mỹ gia tăng và lôi kéo nhiều nước tham gia cấm vận, bị thế giới lên án Việt cộng xâm lăng Kamphuchia…).Sự thể này đã làm Tổng Bí thư đảng CSVN Lê Duẩn lúc đó uất ức phải thốt lên với các đống chí và nhân dân rằng “Chúng Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung quốc…” ( nay sao lại đòi nợ là thế nào?-Đây có lẽ cũng là bài học kinh nghiệm để CSVN phải thực hiện chính sách đi dây sau này vì sợ Trung cộng “dạy cho Việt Nam một bài học” kiểu năm 1979 chăng?)
Nhớ lại, trong thời khoảng này, Liên Xô cũng đang gặp nhiều khó khăn nội bộ, nên không thể giúp Việt Nam vượt thoát những khó khăn toàn diện. Do đó, Việt cộng đã phải một mình chịu đựng, loay hoay tự giải quyết mọi khó khăn cho đến khi nhìn thấy dấu hiệu tiền sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô (Cải tổ Glasnost và cởi mở Perestroika (1986-1989) để cứu nguy chế độ XHCN đều thất bại sau phải chuyển đổi qua dân chủ tư bản chủ nghĩa từ 1991đến nay); trong khi công cuộc “Đổi mới” tại Việt Nam theo gương Liên Xô cũng không thành, Việt cộng phải muối mặt vội tìm cách bám trở lại trụ cột Trung Cộng qua “Mật nghị Thành Đô” (1990),nghe đâu phải chấp nhận nhiều thua thiệt, để được Trung cộng nối lại bang giao. Từ đó, đảng và chế độ CSVN tiếp tục nêu cao và cố gắng thực hiện khẩu hiệu “4 Tốt và 16 Chữ vàng” như nền tảng quan hệ ngoại giao Việt –Trung. Đồng thời từng bước đi theo con đường “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là mèo đó bắt được chuột” của Trung quốc.
- Đối với Hoa Kỳ, quá khứ từng là là cựu thù trong chiến tranh, đối tác làm ăn trong hiện tại, Việt- Mỹ không có cùng quá khứ, nhưng vận mệnh tương lai có thể gắn bó đôi bên cùng có lợi.
Vận mệnh tương lai đó là , sau khi Trung Quốc “mở cửa” làm ăn với thế giới bên ngoài, “phe xã hội chủ nghĩa đã rãy chết”, Việt Nam mới dám nối bước đàn anh tìm cơ hội “mở cửa” làm ăn với các nước “tư bản chủ nghĩa không rãy chết” như lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin. Cơ hội đó là vào năm 1995 khi được Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Từ đó, sau đó và nhờ đó Việt Nam đã từng bước phát triển nhiều mặt, nhất là mặt kinh tế, để có bộ mặt “Phồn vinh” như hôm nay. Mặc dầu người dân ai cũng biết “bộ mặt phồn vinh” hôm nay là kết quả của con đường làm ăn “kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa” (trừ các dư luận viên của nhà đương quyền” ăn cơm Đảng múa tối ngày”). Nhưng vì sĩ diện, Cộng đảng Việt Nam vẫn phải chơi trò gian thương “treo đầu dê bán thịt chó”, rằng đó là nhờ con đường “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, như chúng tôi đã vạch trần trong nhiều bài viết trước đây trên diễn đàn này.Đúng vậy không, thưa các “đồng chí dư luận viên” đang làm công tác “Đặt tình truyền thông” cho “Đảng và nhà nước” của mình?
Thế nhưng cũng từ đó và sau đó cho đến gần lúc này, trong chính sách đối ngoại của Việt cộng, tổng quát trên nguyên tắc là đa phương, nhưng thực tế trong quan hệ song phương Việt Nam, bên ngoài vẫn chẳng đặng đừng phải thực hiện “chính sách đi dây giữa Trung quốc và Hoa Kỳ”.Nhưng bên trong đã không ngừng củng cố mối quan hệ song phương với Hoa Kỳ,nỗ lực từng bước theo hướng “thoát Trung xoay trục về phía Mỹ”. Vì nói gì thì nói, cả nhà cầm quyền cũng như nhân dân Việt Nam trong thâm tâm đều hiểu ngầm rằng thành quả phát triển nhiều mặt, nhất là mặt kinh tế hôm nay, Hoa Kỳ đã đóng vai trò chủ yếu và tương lai đối tác Hoa Kỳ tốt hơn nhiều “đồng chí Trung Quốc”, sẽ là chỗ dựa đối trọng vững chắc cho Việt Nam, vừa phát triển đến tự cường, vừa ngăn chặn được tham vọng lấn chiếm đất liền,biển đảo và áp chế nô dịch Việt Nam của Trung Quốc.
II - VÌ SAO ĐÃ ĐẾN LÚC VIỆT NAM CẦN CHẤM DỨT CHÍNH SÁCH ĐI DÂY ?
Theo nhận định của chúng tôi, đã đến lúc Việt Nam cần chấm dứt chính sách đi dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là vì:
1 - Vì chính sách đi dây này không có hiệu quả trên thực tế,đang tiến dần đến nhiều nguy cơ, dù Việt Nam đã có nhiều cố gắng theo đuổi hàng thập niên qua.
Không hiệu quả, vì mục tiêu và lợi ích của chính sách đối ngoại “đi dây” này không đạt được trên thực tế. Vì trong quan hệ song phương với Trung Quốc,Việt Nam đã luôn tỏ ra cố gắng duy trì tình hữu hảo, muốn được đối xử bình đẳng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, vì lợi ích của hai nước Việt-Trung. Nhất là chính sách đi dây này là để tránh không bị nước láng giềng Trung Quốc có lý do thực hiện tham vọng bá quyền và lấn chiếm đất đai biển đảo của Việt Nam, cũng như gây khó khăn nhiều mặt cho Việt Nam.
Thế nhưng trên thực tế, Trung Quốc đã luôn thực hiện chính sách ngoại giao “lá mặt lá trái” với Việt Nam. Miệng thì nói “hữu hảo”, hành động thì “bất hảo”, luôn ỷ thế mạnh lấn áp Việt Nam đủ điều. Nghiêm trọng nhất là Trung Quốc trong nhiều năm qua đã ngang nhiên lấn chiếm lãnh thổ trên đất liền và các hải đảo của Việt Nam. Cụ thể gần nhất, nhưng vẫn chưa phải là hành động cuối cùng, là vụ Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu khảo sát và các tàu hộ tống vào khu vực Bãi Chính thuộc thềm lục địa và khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, để tiến hành thăm dò dầu khí bất hợp pháp trong vùng biển tranh chấp. Đây là một vi phạm trắng trợn quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế Công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển.Có phải như “Một giọt nước làm tràn ly” chăng?
2 - Vì đến lúc này, Việt Nam đã có đủ các yếu tố chủ quan cũng như khách quan thuận lợi để chấm dứt chính sách đi dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Về chủ quan, Việt Nam đã chứng tỏ làm hết sức mình, đi từ tránh né,nhún nhường, nhượng bộ đến thái độ và hành động kiên quyết đối với Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo của Tổ Quốc hiện nay. Tự thân, Việt Nam đã và đang tiếp tục thực hiện các bước cần thiết cải tiến, tăng cường trang bị vũ khí, sức mạnh an ninh quốc phòng tự chủ, không phải để tự mình đương đầu để chiến thắng trong một cuộc xung đột quân sự không cân sức với Trung Quốc; song chỉ muốn nói lên ý chí và quyết tâm của Việt Nam sẵn sáng đương đầu với tham vọng xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc.Đồng thời có thêm yếu tố để được sự quan tâm, hổ trợ tích cực, toàn diện của quốc tế để ngăn chặn kịp thời bất cứ hành động “ỷ mạnh hiếp yếu” và chặn đứng tham vọng xâm chiếm Biển Đông của Trung Quốc.(theo ý nghĩa một châm ngôn Phương Tây “hãy tự giúp ta, rồi trời sẽ giúp”?)
Mặt khác, về phía nhân dân, chính thái độ và hành động cương quyết, dứt khoát này của nhà cầm quyền Việt Nam dường như đã được sự tán dồng và hậu thuẫn âm thầm và mạnh mẽ của hầu hết nhân dân trong nước và người Việt hải ngoại.Đồng thời người dân Việt Nam hầu như đang hướng lòng về phía Hoa Kỳ và quốc tế như những cứu tinh. Thể hiện điển hình cụ thể mới nhất, khi hay tin Hoa Kỳ điều hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan tới Biển Đông, đã và đang được công luận Việt Nam hưởng ứng và chào đón nhiệt tình giữa bối cảnh căng thẳng trong vùng biển tranh chấp vẫn chưa có dấu hiệu “giảm nhiệt”. Nhiều ý kiến bày tỏ hy vọng Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam và các nước trong khu vực kiềm chế những hành động hung hăng của Bắc Kinh và “sớm lập lại trật tự ở Biển Đông”.
Về mặt khách quan, sau khi Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam ở bãi Tư Chính, Hoa Kỳ là nước đầu tiên đã mau mắn lên tiếng phản đối mạnh mẽ hành động ỷ thế mạnh bắt nạt Việt Nam của Trung Quốc; tiếp theo sau là sự lên tiếng của các cường quốc như Anh, Pháp, Đức, Liên Hiệp Châu Âu, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản….Tất cả đều kết án và bày tỏ sẵn sàng tham gia một liên minh dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông, không chỉ để bảo vệ các quốc gia yếu thế trong khu vực, mà còn là vì quyền lợi quốc gia của họ, cần bảo vệ quyền tự do hàng hải trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế, ngăn chặn tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
Riêng Hoa Kỳ, trong vai trò một cường quốc đứng đầu một liên minh đang hình thành nhằm chống tham vọng bá quyền Trung Quốc, người ta ghi nhận nhiều dấu hiệu tịch cực có lợi cho Việt Nam. Khác với chủ trương đứng ngoài các tranh chấp Biển Đông từng được đưa ra,từ Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đến Cố vấn An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, ông John Bolton, đều đã nhanh chóng lên tiếng chỉ trích việc Trung Quốc “bắt nạt” các nước khác trên Biển Đông, trong bối cảnh căng thẳng leo thang vì vụ Bãi Tư Chính.
Thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 22/8 nêu rõ việc Trung Quốc tái triển khai tàu thăm dò của chính phủ cùng với các tàu hộ tống vũ trang tới vùng biển ngoài khơi Việt Nam gần Bãi Tư Chính hôm 13/8 là một sự leo thang của Bắc Kinh trong nỗ lực uy hiếp không cho các nước cùng có tuyên bố chủ quyền phát triển các nguồn tài nguyên tại Biển Đông.Trong trường hợp Bãi Tư Chính, thông cáo nhấn mạnh, Trung Quốc đang áp lực Việt Nam về sự hợp tác giữa Hà Nội với một công ty năng lượng Nga và những đối tác quốc tế khác.
Thông cáo nói các công ty Mỹ đứng đầu trên thế giới trong việc thăm dò và khai thác các nguồn hydrocarbon, kể cả ở ngoài khơi và tại Biển Đông. Do đó Hoa Kỳ mạnh mẽ chống lại bất cứ nỗ lực nào của Trung Quốc đe dọa hay cưỡng bách các quốc gia đối tác rút lại sự hợp tác với các công ty không phải của Trung Quốc hay quấy nhiễu những hoạt động hợp tác của họ.
Bộ Ngoại giao cho biết Hoa Kỳ cam kết đẩy mạnh an ninh năng lượng của các đối tác và đồng minh tại vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và đảm bảo việc sản xuất dầu khí cho thị trường toàn cầu không bị gián đoạn.
Thông cáo của. Bộ Quốc phòng Mỹ ngày 26/8 nêu rõ hết sức quan ngại trước các nỗ lực tiếp diễn của Trung Quốc vi phạm trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đồng thời Bộ Quốc phòng Mỹ tố cáo hành động của Bắc Kinh hoàn toàn trái ngược với tầm nhìn của Mỹ về một vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở và tự do, mà qua đó, các nước lớn nhỏ được đảm bảo an toàn chủ quyền, không bị uy hiếp, và có thể theo đuổi tăng trưởng kinh tế phù hợp với các luật lệ cũng như chuẩn mực được quốc tế công nhận.
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cho biết Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ các nỗ lực của đồng minh và đối tác để đảm bảo quyền tự do hàng hải và cơ hội kinh tế xuyên suốt cả khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Đồng thời Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton viết trên Twitter hôm 20/8 ám chỉ rằng Washington ủng hộ Việt Nam đứng lên “chống lại hành vi cưỡng ép” của Bắc Kinh. Ông viết “Việc Trung Quốc gần đây leo thang nỗ lực đe dọa để các nước khác không khai thác các tài nguyên ở Biển Đông thật đáng ngại”.Và tằng. “Hoa Kỳ đồng lòng với những ai chống lại các chiến thuật bắt nạt và hành vi cưỡng ép, đe dọa tới an ninh và hòa bình khu vực đó”.
Ngoài những lên tiếng mạnh mẽ của các viên chức lãnh đạo An ninh, Ngoại giao, Quốc phòng ngành hành pháp, Chủ tịch Ủy Ban Đối ngoại Quốc Hội Hoa Kỳ Dân biểu Eliot L. Engel, hôm 26/7 ra tuyên bố về việc Trung Quốc “can thiệp vào vùng biển do Việt Nam kiểm soát”, trong đó ông “lên án Trung Quốc” và bày tỏ ủng hộ Việt Nam.
Vị Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ khẳng định là chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các hành động của Trung Quốc “cấu thành sự vi phạm chủ quyền của Việt Nam và các quyền hợp pháp của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)”.
Bên cạnh đó, ông Engel cũng lưu ý rằng điều quan trọng không kém là hành vi của Trung Quốc “đe dọa lợi ích của các công ty Hoa Kỳ hoạt động trong khu vực”.
Tôi đứng về phía Việt Nam và các đối tác trong khu vực của chúng ta để lên án sự hung hăng này ... Tôi kêu gọi Trung Quốc rút ngay lập tức tất cả các tàu khỏi lãnh hải của các nước láng giềng và chấm dứt các chiến thuật bắt nạt bất hợp pháp này…”
Mặt khác, đi kèm với những lời lên lên án tố cáo Trung Quốc, lên tiếng ủy hô mạnh mẽ Việt Nam của hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ, là những hành động cụ thể trên thực tế trong tương quan giữa Hoa Kỳ và Việt Nam để hổ trợ, tăng cường an ninh quốc phòng cho Việt Nam. Cụ thể như:
(1) Hoa Kỳ muốn thắt chặt quan hệ quốc phòng mạnh hơn với Việt Nam, theo tin VOA ngày 4-4-2019, thì Lý do để tăng cường mối quan hệ quốc phòng, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Schriver cho biết Hoa Kỳ và Việt Nam có cùng lợi ích chung “trong việc thúc đẩy trật tự dựa trên các quy tắc quốc tế, bảo vệ chủ quyền, quyền hợp pháp riêng của các quốc gia, bất kể quy mô hay có lo ngại về một sự xói mòn tiềm ẩn trong trật tự dựa trên quy tắc mà từ trước đến nay đã cho phép tất cả các quốc gia ở Ấn Độ-Thái Bình Dương trỗi vậy và thịnh vượng”.
(2) Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan hôm 1/6 đã gặp người đồng nhiệm Việt Nam Ngô Xuân Lịch bên lề Đối thoại Shangri-La ở Singapore, “nêu bật tiến bộ lịch sử trong mối quan hệ quốc phòng song phương”.
Phát ngôn viên của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho biết rằng “hai nhà lãnh đạo đã tái khẳng định mối quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam”.
(3) Mỹ đào tạo phi công quân sự Việt Nam đầu tiên sau chiến tranh theo tin VOA hôm 3-6-2019. Theo tìm hiểu của VOA qua phái bộ ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, phi công quân sự của Việt Nam bắt đầu tham gia chương trình huấn luyện của Không lực Hoa Kỳ từ năm 2016…
(4) Mỹ ‘phối hợp đa phương’ ở Biển Đông , rằng “Chúng tôi phối hợp với các đối tác và đồng minh nhằm bảo đảm quyền tự do hàng hải và quyền tự do đi lại ở khu vực đó [Biển Đông]. [Chúng tôi] phối hợp song phương cũng như đa phương nhằm quy trách nhiệm cho Trung Quốc”, bà Andrea L. Thompson, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ chuyên trách về Kiểm soát Vũ khí và An ninh Quốc tế, bà nói hôm 13/8 trong một cuộc họp báo.
(5) Tư lệnh Không quân Mỹ đầu tiên thăm Việt Nam kể từ sau chiến tranh 20/08/2019 Theo VOA Đại tướng David L. Goldfein đã trở thành Tư lệnh Không quân Mỹ đầu tiên thăm Việt Nam kể từ sau khi kết thúc chiến tranh. Trong chuyến thăm 2 ngày đến Hà Nội, ông đã giúp thúc đẩy hợp tác quốc phòng giữa hai nước cũng như ủng hộ quyền tự vệ chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông.
(6) VN tuyên bố tham gia cuộc diễn tập hàng hải đầu tiên giữa Mỹ và ASEAN 22/08/2019, theo VOA sự khẳng định của Việt Nam được đưa ra thông qua người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Lê Thị Thu Hằng vào ngày 22/8, giữa lúc tình hình ở Biển Đông tiếp tục gia tăng căng thẳng sau khi Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương Địa Chất 8 quay trở lại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Theo thông tin chúng tôi được biết, cuộc diễn tập hàng hải ASEAN và Mỹ sẽ diễn ra từ ngày 2 tới ngày 6-9-2019. Đây là hoạt động được tiến hành theo thỏa thuận giữa bộ trưởng quốc phòng ASEAN và Mỹ năm 2018. Là thành viên của ASEAN, Việt Nam sẽ tham gia cuộc diễn tập này”, Tuổi Trẻ dẫn lời bà Lê Thị Thu Hằng nói trong cuộc họp báo thường kỳ hôm 22/8.
III - TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY, ĐÂU LÀ ĐỐI SÁCH THÍCH DỤNG CHO VIỆT NAM?
Như lời kết, chúng tôi nghĩ rằng, vào thờI điểm hiện nay, qua vụ Bãi Tư Chính, Trung Quốc một lần nữa đã ngang nhiên xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Sự thể này đã buộc Việt Nam không còn tránh né như bao lâu nay mà đã lên tiếng tố cáo mạnh mẽ đích danh Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Cách hành xử này đã được sự tán đồng của quốc dân Việt Nam trong và ngoài nước, sức hậu thuẫn mạnh mẽ của nhiều quốc gia trên thế giới, đứng đầu là cường quốc Hoa Kỳ; không chỉ bằng lời nói mà đi kèm với những hành động song phương cũng như đa phương ủng hộ Việt Nam, mà còn có nhiều hành động thể hiện quyết tâm chung là chặn đứng tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông, vì quyền lợi chung.
Vì vậy đã đến lúc Việt Nam cần chấm dứt chính sách ngoại giao “Đi dây” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, dứt khoát xoay trục về phía Hoa Kỳ. Vì Việt Nam đã hội đủ các yếu tố thuận lợi chủ quan cũng như khách quan để “thoát Trung”,đứg đánh mất cơ hội này.Về khách quan, ai cũng thấy, chỉ có Hoa Kỳ một cường quốc có đủ thế lực đối trọng với Trung Quốc và có tư thế lãnh đạo một liên minh chống và đập tan được tham vọng bá quyền, ỷ mạnh lấn yếu, bắt nạt các quốc gia nhỏ bé trong vùng, trong đó Việt Nam là một nạn nhân bị đe dọa nhiều nhất do có biên giới cận kề trên đất liền cũng như tại Biển Đông.
Chúng tôi đề nghị nhà đương quyền Việt Nam cần dứt khoát, mạnh dạn, dựa vào dân, chấm dứt mối quan hệ “hữu hảo hão huyền” với Trung Quốc. Đồng thời, thiết lập quan hệ có thực chất với Hoa Kỳ dựa trên lợi ích chung của hai nước và quốc tế. Một cách cụ thể, tổng quát Việt Nam cần từ giai đoạn “Đối tác toàn diện” có tính chung chung, bước qua giai đoạn “Đối tác chiến lược toàn diện” với Hoa Kỳ, từ bỏ chủ trương “Ba Không”, tiến tới ký kết một “Hiệp ước hổ tương an ninh quốc phòng” với Hoa Kỳ là thượng sách. Đừng lo Trung Quốc gây nhiều khó khăn, vì một khi xoay trục đối ngoại về phía Hoa kỳ và đồng minh, mọi khó khăn cách mấy cũng sẽ được giải quyết.Liệu Ông Tổng –Tịch Nguyễn Phú Trọng có dám thể hiện đối sách xoay trục này trong chuyến đi Hoa Kỳ dự trù vào Tháng 10 tới đây không, để không bị mang tiếng là người thân Trung Quốc hay là người được Trung Quốc tấn phong, theo sự đồn đoán bao lâu nay?
Thiện Ý
Houston, ngày 1-9-2019

Friday, August 23, 2019

CHÚNG TA CẦN BẢO VỆ ỔN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG.



CHÚNG TA CẦN BẢO VỆ ỔN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG.


Thiện Ý

Chúng ta là ai? – Là những người Việt quốc gia chống cộng vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam.
-         Vì sao chúng ta cần bảo vệ ổn định cộng đồng ?-
-         Những dấu hiệu nào có thể gây bất ổn Cộng Đồng?
-         Chúng ta cần làm gì để duy trì ổn định Cộng Đồng?
Đó là nội dung bài viết này.

I/- VÌ SAO CHÚNG TA CẦN BẢO VỆ ỔN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG?
     Vì Tổ chức Cộng đồng Người Việt Quốc gia Houston & Các Vùng Phụ cận (Từ đây gọi tắt là Cộng Đồng), cũng như các Cộng Đồng người Việt khắp nơi ở hải ngoại, là Cộng Đồng tỵ nạn cộng sản vì lý do chính trị, không phải vì lý do kinh tế. Do đó cần giữ vững ổn định Cộng Đồng để bảo vệ khối đoàn kết thống nhất, tạo thế lực vững mạnh và uy tín để hoàn thành hai nhiệm vụ chủ yếu:

1.- Hội nhập và thăng tiến trong lòng các quốc gia bản địa mà vẫn duy trì, phát huy được văn hóa và bản sắc dân tộc Việt.

2,- Hổ trợ mạnh mẽ mọi mặt, nhất là mặt đối ngoại để huy động hậu thuẫn quốc tế cho công cuộc đấu tranh của đồng bào trong nước cho mục tiêu tối hậu là dân chủ hóa và phát triển toàn diện đất nước đến phú cường và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân loại.

II/- NHỮNG DẤU HIỆU NÀO CÓ THỂ GÂY BẤT ỔN CỘNG ĐỒNG?

     Kinh nghiệm rút ra từ những sự bất ổn Cộng Đồng Houston trước đây cho thấy đều xuất phát từ những mâu thuẫn nội bộ, với nghi ngờ những mâu thuẫn ấy có thể đã bị cộng sản nằm vùng lợi dụng, khoét sâu với ý đồ tạo sự bất ổn triền miên để phá nát sự đoàn kết thống nhất của các Cộng Đồng.

     Mâu thuẫn nhạy cảm và dễ kích động nhất thường là mâu thuẫn về tài chánh không minh bạch, tạo nghi ngờ cho những người lãnh đạo trong cơ chế tổ chức Cộng Đồng. Mặc dù Cộng đồng vốn là một tổ chức vô vi lợi, những người tham gia vào cơ chế lãnh đạo Cộng Đồng đều là tự nguyện, phục vụ Cộng Đồng không lương, “ăn cơm nhà, vác ngà voi” như tục ngữ việt nam nói. Thế nhưng, tổ chức Cộng Đồng hoạt động được phải có tài chánh nhiều hay ít là do tài của các nhân sự lãnh đạo Cộng Đồng, có được do sự vận động đóng góp của quần chúng, của chính quyền (như Hội Đồng thành phố Houston tài trợ 400.000 dollar tu sửa trụ sở Cộng Đồng… thời Ls Teresa Ngọc Hoàng làm Chủ tịch Cộng Đồng), của cộng đồng bạn (như Cộng Đồng Do Thái tài trợ 100.000 dollar thời Ông Đỗ Minh Đức làm Chủ tịch …); hay bằng tài ngoại giao và những sáng kiến kinh tài của những người lãnh đạo Cộng Đồng (như tổ chức các buổi Chợ đêm của HĐĐD Cộng Đồng đương nhiệm, nhờ đó đã trả hết nợ tạo mãi Trụ Sở Cộng Đồng,,,).

     Tuy nhiên, khách quan mà nói, dù Cộng Đồng là tổ chức bất vụ lợi, những người tự nguyện tham gia vào cơ chế Cộng Đồng đều xuất phát từ thiện chí phục vụ không lương, nhưng bắt buộc cần phải minh bạch về thâu-chi ngân sách của Cộng Đồng. Bởi nêu không minh bạch tài chánh, dễ đưa đến khiếu nại, giải quyết khiếu nại không thỏa đáng dẫn đến xung đột, đưa nhau ra tòa, lôi
kéo nhiều người tham gia gây bất ổn Cộng Đồng, như từng xẩy ra  ba lần trong quá khứ. Hậu quả là, những người dấn thân làm việc Cộng Đồng, công không thấy, mà chỉ thấy tội.

     Hiện tại, rút kinh nghiệm từ qua khứ, chúng tôi thấy đã có những dấu hiệu  có thể dẫn đến bất ổn Cộng Đồng qua hai mâu thuẫn xuất hiện sau đây:
   1.- Mâu thuẫn giữa HĐGS và HĐĐD Cộng Đồng liên quan đến việc giải quyết khiếu nại thâu –chi tiền lạc quyên cứu trợ bão lụt,
   2.- Mâu thuẫn trong nội bộ HĐGS Cộng Đồng giữa Chủ tịch đương nhiệm và các ủy viên liên quan đến việc bầu người khác thay thế mà không thômg qua thủ tục bãi nhiệm theo qui định trong Nội Qui Cộng Đồng (Điều XIV)

III/- CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ ĐỂ DUY TRÌ ỔN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG?

     Theo nhận định của chúng tôi và cũng của nhiều người trong đó có Ông Lê Phú Nhuận, một nhân sĩ luôn quan tâm và từng lên tiếng mỗi khi Cộng Đồng có những dấu hiệu có thể dẫn đến bất ổn Cộng Đồng, thì tất cả những sự xung đột đưa đến bất ổn Cộng Đồng trong quá khứ đều có nguyên nhân chung là không có inh thần thượng tôn  Nội  Qui Cộng Đồng, không lãnh đạo Cộng Đồng theo Nội Qui mà tùy tiện, chủ quan cho rằng chỉ cần có thiện chí và nghĩ rằng mình làm điều gì tốt cho Cộng Đồng là được, Hệ quả là tình ngay, lý gian, không có công mà còn bị bắt lỗi, hay tội nếu lỗi ấy đủ yếu tố cấu thành tội theo pháp luật. Rất may, là trong quá khứ, ba lần tương tranh đưa nhau ra tòa, các lãnh đạo HĐĐD Cộng Đồng đều không bị kết tội,chỉ gây hãu quả tiêu phí tiền bạc cho các bên và sứt mẻ tình đoàn kết thương yêu giữa những người có chung thân phận tỵ nạn CS, cùng chung chiến tuyến, chỉ có lợi cho CS,
     Vậy thì, để duy trì sự ổn định Cộng Đồng, chúng ta cần  giài quyết hai mâu thuẫn trên theo đúng Nội Qui Cộng Đồng.
   1.- Mâu thuẫn về thâu chi tiền cứu trợ bão lụt bằng cách họp liên Hội Đồng Đại Diện, Hội Đồng Liên Tôn và Hội Đồng Giám Sát Cộng Đồng để cùng giải quyết có lý có tình. Sở dĩ cần sự tham dự của Hội Đồng Liên Tôn, vì là thành viên Ủy Ban Cứu Trợ Bão, trên nguyên tắc các thành viên UBCT có chung trách nhiệm, dù trên thực tế HĐLT chỉ tham gia có tính hổ trợ để có thêm uy tín lạc quyên. Trên thực tế, HĐĐD Cộng Đồng là thành viên chủ động chịu trách nhiệm điều hành và lập kế hoạch kế toán nhập xuât phân chia tiền vật dụng cứu trợ, có trách nhiệm chính phải giải trình. Nếu không đồng ý với sự giải trình của HĐĐD Cộng Đồng về thâu chi tài chánh cứu trợ, có thể nhờ một cơ quan kiểm toán (CPA) để kiểm chứng.

   2.- Về mâu thuẫn giữa Chủ tịch Hội Đồng Giám Sát đương nhiệm và của đa số các Ủy Viên đã bầu người khác thay thế, căn cứ trên Nội Qui Cộng Đồng, cuộc bầu cử này là vô hiệu, vì đã bầu mà không thong qua thủ tục bãi nhiệm (Điều XIV), Nếu đa số các Ủy viên vẫn giữ ý định bãi nhiệm Chủ tịch đương nhiệm, cần tiến hành theo thủ tục Nội Qui  định,

   3.- Sau khi giải quyết sẽ thông báo kết quả cho đồng hương biết. Tất cả đều giải quyết kín đáo mọi bất đồng, không nên tranh cãi công khai  trên các phương tiện tryền thông như thương xẩy ra trước đây, chỉ gây hoang mang, tạo nạn bè phái, gây bất ổn Cộng Đồng, dễ bị CS khai thác tác động đẩy cao cường độ xáo trộn để thành đạt ý đồ đen tối là phá nát Tổ chức Cộng Đồng, để không còn ai tin ai, làm nản chí những con người thiện chí không còn muốn dấn than vào sinh hoạt Cộng Đồng…

Chúng tôi hy vọng và ước mong bài viết này được sự quan tâm và cảnh giác của mọi giới đồng hương, nhất là những vị đang lãnh đạo các cơ chế tổ chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Các Vùng Phụ Cận, cần giải quyết mọi mâu thuẫn theo Nội Qui Cộng Đồng, trong tinh thần hai hòa, doàn kết và thiện chí để mọi việc được sáng tỏ, tránh dẫn đến bất ổn Cộng Đồng như từng xẩy ra trong quá khứ, có hại cho chúng ta, có lợi cho Việt cộng.
(Chúng tôi viết bài này khi đang nghỉ hè ở Chicago, tranh thủ thời gian viết nhiều lần nên chắc chắn có nhiều sai sót, mong quý độc giả đồng hương sửa chữa cho)

  Chicago, ngày 15-8-2019.
                  Thiện Ý
   Chủ tịch Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam.
Nguyên Trưởng Ban Tu chỉnh Nội Qui Cộng Đồng NVQG Houston & Các Vùng Phụ Cận (2007),

Vì sao Việt Quốc tiếp tục chống cộng sau cuộc chiến Việt Nam?



Vì sao Việt Quốc tiếp tục chống cộng sau cuộc chiến Việt Nam?

Thiện Ý

-Vì mục tiêu của Việt Quốc khác ý đồ của Việt Cộng và ngoại bang muốn thành đạt qua cuộc chiến Việt Nam.
- Vì Việt Quốc không chấp nhận là “Bên thua cuộc” và không thừa nhận Việt Cộng là “Bên thắng cuộc
- Vì động lực và mục tiêu tối hậu của Việt Quốc khác Việt Cộng.
     Đó là nội dung bài viết này

I/- VÌ MỤC TIÊU CỦA VIỆT QUỐC KHÁC Ý ĐỒ CỦA VIỆT CỘNG VÀ NGOẠI BANG.
     Chúng tôi đã tạm chia cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam diễn tiến qua ba giai đoạn (như đã trình bày khái quát trong bài trước):
     1.- Tiền Chiến Tranh Quốc - Cộng (1930-1954)
     2.- Cuộc Chiến Tranh Quốc - Cộng (1954-1975)
     3.- Hậu Chiến Tranh Quốc - Cộng   (1975-kết thúc)
    Trong giai đoạn chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975) mục tiêu trước mắt của Việt Quốc là ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh do cộng sản Bắc Việt phát động, tiến hành nhằm thôn tính Miền Nam, cộng sản hóa cả nước. Mục đích lâu dài của Việt Quốc là để bảo vệ Miền Nam như một không gian  để có thời gian và cơ hội xây dựng thành công chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, với một Miền Nam phát triển toàn diện đến phú cường và văn minh tiến bộ; tạo tiền đề thống nhất đất nước một cách hòa bình (thông qua các cuộc bầu cử tự do, để nhân dân hai miền chọn một chế độ chính trị thích dụng…), với sự ưu thắng của chế độ dân chủ pháp trị giầu mạnh ở Miền Nam trên chế độ độc tài toàn trị xã hội chủ nghĩa, nghèo nàn và lạc hậu ở Miền Bắc (như thực tế nước Đức thống nhất với chế độ dân chủ Tây Đức giầu mạnh ưu thắng chế độ độc tài CS Đông Đức nghèo yếu; hay Bắc và Nam Hàn trong tương lai với sự ưu thắng của chế độ dân chủ Nam Hàn phồn vinh ưu thắng chế độ độc tài CS Bắc Hàn nghèo nàn, lạc hậu...)
     Trong khi đó ý đồ của Việt Cộng là ngụy dân tộc, phát động cuộc chiến tranh “Giải phóng Miền Nam”, thống nhất đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam vào hệ thống các nước cộng sản đứng đầu là Liên Xô (với sự cạnh tranh bá chủ của Trung Quốc). Như vậy ý đồ của Việt Cộng, trùng khớp với ý đồ của ngoại bang Liên Xô cầm đầu cộng sản quốc tế. Trước sau gì thì Việt Cộng chỉ là công cụ tri tình (tình nguyện, chủ động) của cộng sản quốc tế. Sự thật này đã được lãnh tụ Việt Cộng Hồ Chí Minh lúc sống nhiều lần khẳng định, rằng “Cách mạng (vô sản) Việt Namlà một bộ phận không thể tách rời của “Cách mạng (vô sản) quốc tế”. Tổng bí thư Cộng đảng Việt nam Lê Duẩn sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, bị Trung Quốc o ép làm khó, đòi nợ khẩn cấp vì ngả theo Liên Xô, đã tức dận “nói toạc móng heo” rằng “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc..”(!).
     Thế nhưng về phía Việt Quốc mục đích hoàn toàn khác với ý đồ tham chiến của ngoại bang, cụ thể là Hoa Kỳ và các nước đồng minh, như chúng tôi đã trình bày trong nhiều bài viết trước đây trên diễn đàn này. Để bảo vệ Miền Nam phần đất còn lại của Tổ Quốc Việt nam không bị nhuộm đỏ, Việt Quốc đã buộc lòng thực hiện một cuộc chiến tranh tự vệ. Việt Quốc không ai nghĩ  chống cộng là chống cho Hoa Kỳ” mà cho chính mình, để bảo vệ giang san đất nước và dân tộc trước hiểm họa cộng sản. Chẳng qua vì cuộc chiến tranh này diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến tranh ý thứ hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; Việt Cộng được Liên Xô, Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa chi viện toàn diện, thì Việt Quốc chẳng đặng đừng phải nhận viện trợ vũ khí, lương thực của Hoa Kỳ và các nước đồng minh. Có điều Việt Quốc đã bị Hoa Kỳ biến thành “công cụ ngay tình(khác Việt Cộng là công cụ tri tình) để cuối củng “bị làm bên thua cuộc”. Hệ quả này, một phần là do hàng ngữ lãnh đạo chính quyền và quân đội VNCH đã không đủ tài trí giữ vững độc lập chủ quyền, để Hoa Kỳ can thiệp quá sâu rộng vào công việc nội bộ VNCH. Hành động can thiếp thô bạo nhất là đã đưa quân tham chiến trực tiếp “Mỹ hóa chiến tranh”, làm mất chính nghĩa dân tộc của Việt Quốc, để Việt Cộng ngụy dân tộc có căn cứ giật mất chính nghĩa chống cộng.Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu đã cưỡng tử Việt Quốc vào ngày 30-4-1975, trước sự phủi tay không thương tiếc của Hoa Kỳ ( vì những lợi ích chiến lược đã đạt được qua cuộc chiến và vì nhu cầu đi vào chiến lược toàn cầu mới) và sự làm ngơ của những cam kết quốc tế (khi Việt cộng vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam).
     Sự thể này cho thấy, dù cuộc chiến tranh quốc-cộng diễn ra trong khung cảnh cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nhưng không là một, mà khác nhau về lợi ích và mục tiêu tối hậu. Và vì vậy Việt Quốc tiếp tục chống công, dù cuộc chiến Việt nam đã kết thúc 44 năm qua. Vì sao?

II/- VIỆT QUỐC KHÔNG CHẤP NHẬN THUA CUỘC VÀ KHÔNG THỪA NHẬN VIỆT CỘNG “BÊN THẮNG CUỘC”?
     Vì Việt Quốc không chấp nhận thua cuộc và cũng không thừa nhận “bên thắng cuộc” Việt Cộng nên mới tiếp tục chống cộng cho đến ngày thành đạt mục tiêu tối hậu của chủ nghĩa quốc gia đối kháng với chủ nghĩa cộng sản, là dân chủ hóa đất nước.

1.-Việt quốc không chấp nhận sự thua cuộc vì:
     - Trái với  luận lý thông thường, phe chính nghĩa Việt quốc (Chính nghĩa Quốc gia: Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chính thống, hợp pháp, chính đáng, chính danh, dân chủ…Tất cả vì nhân dân, dân tộc, vì tổ quốc Việt Nam) đúng ra phải tất thắng phe ngụy nghĩa Việt cộng (ngụy nghĩa Cộng sản, ngụy danh Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không chính thống, không hợp pháp, không chính đáng, phản dân tộc, độc tài đảng trị, phản dân chủTất cả vì giai cấp vô sản thế giới, vì sự nghiệp xây dựng CNXH của cộng sản quốc tế, vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô…).
     - Trái với thực tế so sánh tương quan lực lượng quân sự, kinh tế Việt Quốc ở Miền Nam mạnh hơn nhiều, nhân dân được sống trong chế độ dân chủ pháp trị; so với Việt Cộng ở Miền Bắc, nhân dân phải sống trong chế độ độc tài đảng trị. Đồng thời Việt Quốc lại là phe chính nghĩa, nên không thể thua cuộc và  phải là phe thắng cuộc mới đúng; như sự ngạc nhiên của cố Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John Mc Cain khi đến Hà Nội sau chiến tranh đã tuyên bố đại ý không thể tin được một sự phi lý, khi “phe tà” (Việt Cộng) lại thắng “phe chính” (Việt Quốc), nghèo nàn lạc hậu (Miền Bắc) thắng giầu mạnh văn minh (Miền Nam)...
    
2.- Việt quốc không thừa nhận “Bên thắng cuộc” Việt cộng vì:
     - Việt quốc chỉ coi chiến thắng của đối phương Việt cộng là “Chiến thắng giả tạo”(Chiến thắng biểu kiến), chiến thắng giai đoạn, chưa phải là chiến thắng cuối cùng. Một chiến thắng  do các thế lực khuynh đảo quốc tế sắp đặt và sự thua cuộc của mình chỉ là vì bị đồng minh phản bội, cấu kết với đối phương, gài thế cờ bí cưỡng tử chính quyền chính thống và quân đội quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.
     - Vì các nhà lãnh đạo chính trị cũng như quân sự của chính quyền Việt quốc đã hạn chế về năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quá lệ thuộc sách lược chống cộng của Hoa Kỳ (đúng ra là không tạo ra được sách lược chống cộng riêng), nên mất chủ quyền; không chủ động và sự yếu kém trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược chống cộng toàn diện để thắng Việt cộng. Và vì tính nhân đạo hữu thần, Việt quốc không thể và không dám thực hiện những chủ trương, chính sách, biện pháp tiêu diệt đối phương triệt để, tàn bạo, vô nhân đạo như Việt cộng đã làm.
     Và vì vậy, Việt quốc vẫn không bỏ cuộc, tiếp tục chống cộng giai đoạn ba, mặc dầu trong điều kiện đấu tranh không cân sức so với đối phương Việt cộng, không thuận lợi và gặp nhiều khó khăn chủ quan cũng như khách quan. Nhưng Việt quốc vẫn chống cộng vì tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia, theo luận lý thông thường “chân lý tất thắng phi lý”, “Chính nghĩa tất thắng ngụy nghĩa”, “nhân nghĩa tất thắng hung tàn”…Thực tế quả đúng là như vậy.
    
III/- ĐỘNG LỰC CHỐNG CỘNG VÀ MỤC TIÊU SAU CÙNG VIỆT QUỐC  PHẢI THÀNH ĐẠT LÀ GÌ?
    
1.- Động lực chống cộng.
     Như chúng tôi đã trình bày ở bài trước,trong cả ba giai đọạn chống cộng trước sau các thế hệ Việt quốc hay là người Việt Nam không cộng sản đều có chung động lực là lòng yêu nước, tình yêu thương dân tộc và trách nhiệm đối với đất nước, tiền đồ Tổ Quốc Việt Nam.
     Như vậy, trước sau gì công cuộc chống cộng của Việt quốc đều xuất phát từ lòng yêu nước, chứ không phải vì lòng căm thù, dù qua các giai đọan chống cộng, Việt cộng đã gây ra quá nhiều thù hận. Nhưng lòng thù hận chỉ là cảm tính, động lực cá nhân, là hậu quả do cách hành xử tàn ác của Việt cộng đối với Việt quốc gây ra, chỉ sau khi khởi sự và trong quá trình phân tranh Quốc-Cộng. Trong khi, mọi người tham gia công cuộc chống cộng khởi đi từ động lực nguyên thủy, chủ yếu là lòng yêu nước, vốn có từ trước khi Việt cộng xuất hiện trên đất nước này và gây ra thù hận.
     Sự thể này chứng tỏ Việt quốc chống cộng do động lực là lòng yêu nước chứ không phải vì thù hận. Việt quốc chống cộng không phải để trả thù, mà chống cộng vì mục đích cao cả, để thành đạt mục tiêu tối hậu: “Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, dân chủ hóa đất nước”, tạo tiền đề xây dựng và phát triển toàn diện đất nước đến phú cường và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân loại, của cộng đồng các quốc gia trên thế giới; để mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, với các nhân quyền, dân quyền được tôn trọng, bảo vệ và hành xử; để mọi người dân Việt không phân biệt giai tầng xã hội, sắc tộc, tín ngưỡng có được một đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của con người.

2.- Mục tiêu sau cùng phải thành đạt.
      Vì vậy, mục tiêu tối hậu củaViệt quốc, không phải là tiêu diệt đến người cộng sản Việt Nam cuối cùng, mà chỉ làm “phản tỉnh” và loại trừ cơ hội cho người cộng sản không thể độc chiếm quyền lực, thực hiện một chế độ độc tài toàn trị cộng sản, gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và di hại lâu dài cho Đất nước và dân tộc . Để sau đó, thay thế bằng một chế độ dân chủ đích thực, chứ không phải là chế độ độc tài không cộng sản hay bất cứ một chế độ dân chủ giả hiệu nào.
     Nghĩa là Việt Quốc sẽ tiếp tục chống chống cho đến khi nào thành đạt mục tiêu tối hậu này: Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, dân chủ hóa đất nước, thì cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc - Cộng tại Việt Nam mới coi như chấm dứt.

III/- KẾT LUẬN:

     Câu hỏi được đặt ra là, Việt quốc tiếp tục chống cộng sau cuộc chiến tranh Quốc - Cộng (1976-2019), với niềm tin tất thắng của chính nghĩa quốc gia có chủ quan, duy ý chí, phiêu lưu, thiếu thực tế không?
     Việt quốc có thể trả lời ngắn gọn một cách khẳng định, rằng sự lựa chọn tiếp tục chống cộng, với niềm tin tất thắng của chính nghĩa quốc gia là không chủ quan, không duy ý chí, không phiêu lưu, là có căn cứ thực tiễn, phù hợp với chiều hướng mới không thể đảo ngược ( của thế chiến lược toàn cầu mới), đáp ứng đúng ý nguyện của toàn thể quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, chỉ có lợi chứ không có hại gì cho tiền đồ dân tộc và Tổ Quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
      Vì thế nên đã và đang được thực tế ngày một khẳng định “chân lý tất thắng”, chân lý thuộc về ai, được quốc dân và quốc tế ủng hộ ai, để cuối cùng “Chính Quốc tất phải thắng “Tà Cộng”. Đây không phải chỉ là lý luận của niềm tin mà còn là một thực tế chắc chắn sớm muộn phải được thể hiện. Vấn đề chỉ còn là thời gian và vấn đề chỉ còn là: Việt quốc sẽ phải thắng Việt cộng như thế nào và bằng cách nào? Và sau đó Việt quốc phải làm gì tốt hơn Việt cộng, cho tương lai đất nước và dân tộc?
     Bài tới chúng tôi sẽ trình bày “44 năm Việt Quốc chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước như thế, thành quả ra sao?”
Thiện Ý
Houston, ngày 21-8-2019