Sunday, January 29, 2012

Nhận định tổng quát: 36 năm Việt quốc chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước: thành quả và triển

Nhận định tổng quát:
 36 NĂM VIỆT QUỐC CHỐNG CỘNG VÌ TỰ DO DÂN CHỦ CHO ĐẤT NƯỚC :THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?

Thiện Ý
* * * * * *

       Trong khuôn khổ một bài nhận định tổng quát, chúng tôi chỉ xin đưa ra nhận định đại cươngvề 36 năm Việt quốc chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước, với thành quả ra sao, triển vọng tương lai thế nào. Chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết hơn trong tập tài liệu nghiên cứu lý luận “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc- Cộng tại Việt Nam”, trong đó chúng tôi đã chia cuộc nội chiến này thành ba giai đoạn:
1.- Tiền Chiến Tranh Quốc - Cộng (1930-1954)
2.- Cuộc Chiến Tranh Quốc - Cộng (1954-1975)
3.- Hậu Chiến Tranh Quốc - Cộng   (1975- kết thúc)

     Như vậy là chúng ta, những người Việt quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản đang ở vào giai đoạn thứ ba và cũng là giai đoạn cuối cùng của cuộc “Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc-Cộng Tại Việt Nam”. Giai đoạn này khởi sự từ sau ngày 30-4-1975, khi cuộc Chiến Tranh Quốc – Cộng kết thúc với sự thua cuộc của phe Việt Quốc  và sự thắng cuộc của phe Việt Cộng.
      Tuy nhiên Việt Quốc vẫn không chấp nhận sự thua cuộc này và  vẫn không thừa nhận chiến thắng của đối phương Việt Cộng.
      Không chấp nhận sự thua cuộc vì:
-       Trái với  luận lý thông thường, phe chính nghĩa Việt quốc (Chính nghĩa Quốc gia: Việt Nam Cộng Hòa chính thống, chính đáng, chính danh, dân chủ, …) đúng ra phải tất thắng phe ngụy nghĩa Việt cộng (Ngụy nghĩa Cộng sản, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngụy danh, không chính thống, không chính đáng ,phản dân tộc, độc tài đảng trị, phản dân chủ…).
-       Thực tế so sánh tương quan lưc lượng quân sự, kinh tế Việt Quốc ở Miền Nam mạnh hơn nhiều so với Việt Cộng ở Miền Bắc,lại là phe chính nghĩa, nên không thể thua cuộc và  phải là phe thắng cuộc mới đúng.
         Không thừa nhận chiến thắng của đối phương:
-       Vì Việt quốc chỉ coi chiến thắng của đối phương Việt cộng là “Chiến thắng giả tạo”(Chiến thắng biểu kiến)  do các thế lực khuynh đảo quốc tế sắp đặt và sự thua cuộc của mình chỉ là vì bị đồng minh phản bội, cấu kết với đối phương, gài thế cờ bí cưỡng tử chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.
-       Vì các nhà lãnh đạo chính trị cũng như quân sự của chính quyền Việt quốc đã hạn chế về năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quá lệ thuộc sách lược chống cộng của Hoa Kỳ(đúng ra là không tạo ra được sách lược chống cộng riêng), nên mất chủ quyền, không chủ động và sự yếu kém trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược chống cộng toàn diện để thắng Việt cộng.Và vì tính nhân đạo hữu thần, Việt quốc không thể và không dám thực hiện những chủ trương, chính sách, biện pháp tiêu diệt đối phương triệt để, tàn bạo, vô nhân đạo như Việt cộng đã làm.
       Và vì vậy, Việt quốc vẫn không bỏ cuộc,tiếp tục chống cộng giai đoạn ba, mặc dầu trong điều kiện đấu tranh không cân sức so với đối phương Việt cộng, không thuận lợi và gặp nhiều khó khăn chủ quan cũng như khách quan, song vẫn chống cộng vì tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia, theo luận lý thông thường “chân lý tất thắng phi lý”, “Chính nghĩa tất thắng ngụy nghĩa”.
      Như vậy, sự lựa chọn của Việt quốc tiếp tục chống cộng sau chiến tranh, với niềm tin tất thắng của chính nghĩa quốc có chủ quan,duy ý chí, phiêu lưu, thiếu thực tế không?
     Việt quốc có thể trả lời ngắn gọn một cách khẳng định, rằng sự lựa chọn tiếp tục chống cộng, với niềm tin tất thắng của chính nghĩa quốc gia là không chủ quan, không duy ý chí,  không phiêu lưu, là có căn cứ thực tiễn, phù hợp với chiều hướng của thế chiến lược quốc tế mới, đáp ứng đúng ý nguyện của toàn thể Quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, nên đã và đang được thực tế ngày một khẳng định chân lý thuộc về ai, quốc dân và quốc tế ủng hộ ai, chống ai, để cuối cùng “Chính Quốc” tất phải thắng “Tà Cộng”. Đây không phải chỉ là lý luận của niềm tin mà còn là một thực tế chắc chắn sớm muộn phải được thể hiện. Vấn để chỉ còn là: Việt quốc sẽ phải thắng Việt cộng như thế nào và bằng cách nào? Và sau đó Việt quốc phải làm gì tốt hơn Việt cộng.
     Nội dung bài viết này lần lượt trình bầy:
I/- Lý do chống cộng, động lực chống cộng và  mục tiêu tối hậu phải thành đạt là gì?
II/-Việt quốc đã chống cộng thế nào trong 36 năm qua và hiệu quả ra sao?
III/- Thành quả và Triển vọng tương lai.
* KẾT LUẬN.
I/- LÝ DO CHỐNG CỘNG, ĐỘNG LỰC CHỐNG CỘNG, VÀ MỤC TIÊU TỐI HẬU PHẢI THÀNH ĐẠT LÀ GÌ?
    1.- Lý do Việt quốc chống cộng?       
          Trước khi trả lời câu hỏi “Vì sao Việt quốc chống cộng”, cần xác định “Việt quốc” là ai, để để phân định rõ lằn ranh trong trận tuyến chống cộng vì tự do, dân chủ cho Đất nước.
        Việt quốc là những người Việt Nam không cộng sản, theo “ý thức hệ quốc gia”, tôn thờ Tổ Quốc Việt Nam, coi quyền lợi dân tộc Việt Nam là tối thượng, kế thừa sự nghiệp dựng nước và giữ nước của lịch sử Việt Nam, khởi đi từ Thời Hồng Bàng với các Vua Hùng dựng nước Văn Lang (tên cổ xưa của Việt Nam), qua các triều đại độc lập tự chủ do các vua chúa Việt Nam cai trị đất nước(Đinh, Lê, Lý, Trần. . .) hay những thời kỳ dài ngắn bị ngọai bang xâm chiếm đô hộ ( 1000 năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc), với các anh hùng hào kiệt đã lãnh đạo nhân dân chống ngọai xâm, giành và giữ độc lập, tự chủ cho dân tộc, viết nên những trang sử oai hùng và vẻ vang cho dân tộc Việt (Như Ngô Quyền, Hai Bà Trưng,Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt , Quang Trung, Phan đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn Thái Học. . . .)
        Việt cộng là những người Việt Nam, theo “Ý thức hệ cộng sản”, tôn thờ “Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa” (Liên Xô), coi lợi ích quốc tế cộng sản (vô sản) là tối thượng, kế thừa thành quả đấu tranh giai cấp và tiếp tục thực hiện “Chiến tranh cách mạng vô sản” để mở mang bờ cõi cho các tân đế quốc đỏ Nga-Tầu, cộng sản hóa toàn cầu, tách khỏi và chống lại dòng chính lịch sử dân tộc, xóa bỏ ranh giới quốc gia để hội nhập vào một “Thế giới đại đồng” (cộng sản chủ nghĩa)….
        Sau  khi xác định “Việt quốc” và “Việt cộng” như thế, chúng ta có thể minh bạch trả lời cho câu hỏi: Vì sao Việt quốc chống cộng?   
        Việt quốc chống cộng, vì:
   1.-  Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa cộng sản dù có là một lý tưởng cao đẹp có tính mê hoặc lòng người, nhất là những người trẻ tuổi vốn say mê lý tưởng vào đời, nhưng không tưởng theo nghĩa một lý tưởng không thể thực hiện được. Vì vậy, những cá nhân (đảng viên cộng sản) hay tập đoàn (đảng cộng sản) ở bất cứ quốc gia nào, khi vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tiễn đã chỉ là tai họa thảm khốc, phá hủy mọi nền tảng đạo đức, văn hóa dân tộc, mất độc lập tự chủ, đưa nhân dân dân vào cảnh mất tự do, đói khổ, lầm than, di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ nhân dân,phân hóa dân tộc của quốc gia ấy.
        Rốt cuộc, cái gọi là “cuộc cách mạng vô sản” để xây dựng “một xã hội không người bóc lột người” (Từ xã hội: xã hội chủ nghĩa,còn giai cấp, đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, không còn giai cấp, không còn nhà nước…) chỉ là chiêu bài lừa mị của một tập đoàn thống trị độc quyền, độc tôn, độc tài (đảng cộng sản) để xây dựng “một xã hội người (với thiểu số cán bộ đảng viên CS) độc quyền áp bức bóc lột người (tuyệt đại đa số nhân dân)” chưa từng có trong lịch sử hình thành  các xã hội loài người có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản…theo duy vật sử quan Marxism)
   2.-Trên bình diện thực tiễn, những người cộng sản Việt Nam (Việt cộng) nói riêng, cộng sản quốc tế nói chung,  đã tin theo và vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tế nước ta, (cũng như  một số nước khác trên thế giới),đã gây tác hại nghiêm trọng, tòan diện, lâu dài trên con người, dân tộc và đất nước Việt Nam trong nhiều thập niên qua và di hại lâu dài cho Dân tộc và Đất nước Việt Nam qua nhiều thế hệ sau này.
         Vì tin và hành động theo “ý thức hệ cộng sản”  Việt cộng đã đánh mất bản sắc dân tộc, tách rời khỏi lịch sử chính thống quốc gia Việt Nam và dùng “Tính giai cấp” và  lăng kính “đấu tranh giai cấp” để phê phán chủ quan, không trung thực về các triều đại và  các anh hùng hào kiệt của lịch sử Việt Nam, xuyên tạc lịch sử và chối bỏ Tổ Quốc Việt Nam, để chọn và tôn thờ cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” là tổ quốc của mình. Và vì vậy cộng sản Việt Nam sẵn sàng hy sinh quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc việt nam cho quyền lợi của đảng Cộng sản Việt Nam và quốc tế cộng sản.
        Vì chủ trương hận thù và đấu tranh giai cấp Việt cộng đã phá đổ mọi quan hệ xã hội giữa người với người, đã không ngần ngại thủ tiêu, bắn giết và làm mọi điều tàn ác với với những người anh em cùng mầu da sắc máu, chung nguồn gốc Việt tộc với họ,theo phương châm “cứu cánh biện minh cho hành động”.(như đã làm trong giai đoạn Chiến Tranh Quốc Cộng 1954-1975 điển hình là đã tàn sát, chôn sống hàng ngàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và các nơi khác trong suốt cuộc chiến tranh Quốc- Cộng)
        Vì chủ trương vô thần, chết là hết, nên Việt cộng không sợ hậu quả, đã thẳng tay đàn áp những người dân hữu thần, dùng mọi thủ đoạn, phương cách dù bất nhân, tàn bạo nhằm tiêu diệt mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo, vốn là nhu cầu quan yếu trong đời sống tâm linh của con người, và là một thực thể xã hội góp phần vào nền đạo đức xã hội nhân bản qua mọi thời đại.
        Thực tế là, sau khi nắm được quyền thống trị toàn đất nước 36 năm qua và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc, đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, với một đảng duy nhất nắm quyền thống trị (đảng CSVN) với một nhà nước “Chuyên chính vô sản” (tức độc tài cộng sản) bác đọat quyền tự do, dân chủ và các nhân quyền cơ bản của nhân dân, thông qua
 “ một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng cộng sản Việt Nam”, một công cụ trấn áp nhân dân, duy trì và bảo vệ quyền cai trị độc tài, độc tôn, độc quyền với những ưu quyền đặc lợi của một giai cấp thống trị mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản,chia nhau nắm quyền chia lợi ở các cấp, các ngành trong bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Nghĩa là một giai cấp thiểu số (khoảng 3 triệu đảng viên CS) thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam (trên 85 triệu dân)từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở.
        Đó là những lý do khái quát, căn bản trên bình diện lý luận và thực tiễn, khiếnViệt quốc, những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia, hay là những người Việt Nam không cộng sản từ quá khứ đến hiện tại, từ trong nước ra hải ngoại, đã và vẫn đang tiếp tục con đường chống cộng trường kỳ cho đến ngày toàn thắng.
2.- Việt quốc chống cộng tự bao giờ và nhằm thành đạt mục đích gì?
      Có thể nói,  kể từ khi “ý thức hệ cộng sản” du nhập vào Việt Nam trong những thập niên đầu Thế Kỷ 20, nhưng rõ rệt là kể từ khi đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện chính thức trên chính trường Việt Nam,sau khi ông Hồ Chí Minh được huấn luyện và đào tạo từ lò cộng sản Moscow, nhận chỉ thị của Đệ tam Quốc tế Cộng sản Nga  trở về Honkong họp Đại Hội thống nhất ba đảng Marxist thành lập trước đó (Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và An Nam Cộng sản đảng) thành đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vào ngày 3 tháng 2 năm 1930. Và  có thể coi công cuộc chống cộng từ ý thức đến hành động, cũng  khởi đi từ đó, nhằm thành đạt các mục đích chống cộng của từng giai đọan, tiến tới thành đạt mục tiêu chống cộng tối hậu là đánh bại chủ nghĩa cộng sản trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, để xây dựng một chế độ tự do dân chủ đích thực theo đúng ý nguyện và vì lợi ích của toàn thể quốc dân Việt Nam. 
         Như vậy, cộng cuộc chống cộng  có thể chia làm ba giai đọan, trong phạm vi một bài nhận định tổng quát chúng tôi  chỉ có thể trình bầy vắn tắt như sau:
   1.- Giai đọan 1:(1930 – 1954)
         Đây là giai đọan chống cộng đầu tiên, diễn ra trong thời kỳ kháng chiến chống ách thống trị của thực dân  Pháp giành độc lập, thế hệ cha, ông chúng ta đã chống cộng nhằm ngăn chặn một hiểm họa hậu Pháp thuộc: Hiểm họa cộng sản.
         Bởi vì trong giai đọan này, lực lượng được coi là lãnh đạo chống cộng, bao gồm các chính đảng quốc gia (Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Độc Lập, Việt Nam Cách Mạng Đảng tức Phục Việt, Đại Việt Quốc Xã, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Ái Quốc đảng, Nhân xã đảng. . .) và một số nhà trí thức, thân hào nhân sĩ yêu nước tiên tiến tiêu biểu như Hùynh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. . .Họ đã thấy  được ý đồ của  ông Hồ và Cộng đảng của ông ta chỉ là  lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, thông qua cuộc kháng chiến chống Pháp như một phương tiện, không phải để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam, mà làm nhiệm vụ của cộng sản quốc tế, giành thuộc địa kiểu mới cho các tân đế quốc đỏ Nga – Tầu, nhuộm đỏ đất nước và  nô dịch hóa nhân dân  Việt Nam.
         Vì thế, mục tiêu chống cộng  giai đoan này là  làm sao cho quần chúng Việt Nam thấy được hiểm họa cộng sản, không tin, không theo, không để cho  ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam lợi dụng của cải, xương máu và lòng yêu nước chống ngọai xâm của mọi tầng lớp nhân, để dùng  kháng chiến như phương tiện, không phải để giành độc lập cho dân tộc, mà giành “Thuộc địa kiểu mới” cho “Tân Đế Quốc Đỏ Nga –Tầu” thực hiện “Chủ nghĩa thực dân kiểu mới” của cộng sản quốc tế.
          Cuộc phân tranh Quốc – Cộng lúc này  diễn ra âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt, giữa một bên là các chính đảng Quốc gia và các thân hào nhân sĩ yêu nước, bên kia là đảng Cộng sản Việt Nam. Đôi bên Quốc- Cộng phân tranh nhằm tiêu diệt nhau và thu phục, lôi kéo nhân dân theo và nhận chịu sự lãnh đạo của mình. Cuộc phân tranh Quốc – Cộng giai đọan này, lúc đầu chủ yếu diễn ra trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền chính trị, nhằm lôi kéo quần chúng  Việt Nam tin theo và tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của mình.
         Tuy nhiên, vào thời khỏang cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), sau khi Nhật bại trận trong Thế Chiến Thứ II, phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Lúc đó, Cộng Đảng Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh, dù  thế yếu so với các chính đảng quốc gia, song nhờ thủ đọan khôn khéo và tính tổ chức, tinh thần kỷ luật và tính cách mạng cao của một đảng Marxist-Leninnist, nên đã cướp thời cơ, giành được chính quyền nhiều nơi trên cả nước. Nhưng vì thực lực và tình hình thực tế quốc nội cũng như quốc tế lúc đó, chưa cho phép Cộng Đảng lộ rõ nguyên hình và độc chiếm chính quyền, nên Ông Hồ đã phải thành lập một chính phủ liên hiệp Quốc-Cộng, sọan thảo và ban hành một bản Hiến Pháp năm 1946 thiết lập chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (giả hiệu) mang tính “Dân chủ tư sản”, chứ chưa giám thiết lập “Chế độ chuyên chính vô sản” tức “độc tài tòan trị cộng sản , ngay cả  đảng Cộng sản lúc đó cũng phải tuyên bố tự giải tán. Mãi sau này, khi nắm được quyền thống trị nửa nước Miền Bắc, cũng vẫn phải gọi tên đảng CSVN trá hình là “Đảng Lao Động Việt Nam” chứ chưa dám xưng danh “Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đồng thời cũng vẫn phải giữ bảng hiệu chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”  cho đến khi đã thôn tính được Miền Nam vào 30-4-1975, thống trị cả nước, sau đó mới dám trương bảng hiệu chế độ “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.(giả nghĩa).
        Sở dĩ Việt cộng phải trá hình như thế, là vì thời khỏang những năm đầu sau Thế Chiến II, cộng sản đang bị thế giới coi là một hiểm họa toàn cầu và tại Việt Nam  quần chúng chưa biết gì nhiều về cộng sản, những người biết thì rất sợ chủ nghĩa tam vô (vô tổ quốc, vô gia đình,vô tôn giáo), nên ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam đã phải che đậy bằng mọi cách và khai thác triệt để lòng yêu nước chống ngọai xâm của tòan dân và lòng căm thù giai cấp trong một số bộ phận nhân dân (Công nhân với chủ tư bản, Nông dân căm thù địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn. . .).
       Trên thực tế,đôi lúc đã có những cuộc xung đột võ trang giữa các đảng phái Quốc Gia và Cộng đảng Việt Nam, gây tổn thất nhân mạng cho cả đôi bên. Riêng Cộng đảng Việt Nam, ngòai các họat động tuyên truyền, thủ đọan lừa mị tinh vi để lôi kéo quần chúng, họ còn xử dụng các hình thức khủng bố, thủ tiêu những ai không theo hay chống lại họ. Một số nhà ái quốc Việt Nam đã bị CSVN thủ tiêu trong giai đọan này như lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng Trương Tử Anh, hay các nhân sĩ ái quốc như Khái Hưng, Hòang Đạo, Ngô Đình Khôi và nhiều nhà ái quốc khác theo ý thức hệ quốc gia…
         Kết quả của cuộc phân tranh Quốc - Cộng giai đọan này: Quốc thua, Cộng thắng. Là  vì  mục tiêu chống cộng giai đọan này đã không đạt được: không những  phe Quốc gia đã không ngăn chặn được hiểm họa CS trong ý thức quần chúng, và thực tế đã  không  lọai được vai trò lãnh đạo kháng chiến của CS, để cho cộng sản lôi kéo được quần chúng theo họ, thu hút được nhiều thành phần dân chúng vào một tổ chức kháng chiến do họ dựng lên (Mặt trận Việt Minh) và  nắm quyền chủ đạo kháng chiến trong thời kỳ chót của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Vì sao Quốc thua Cộng? (Chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc- Cộng Tại Việt Nam)
         2.- Giai đọan 2:(1954 – 1975)
              Vì giai đọan 1, phe Quốc gia đã thất bại trong mục tiêu chống cộng để ngăn chặn hiểm họa Cộng sản  từ xa, khi Cộng đảng VN chưa giành được lãnh thổ để thiết lập một chính quyền “Chuyên Chính Vô Sản” (Tức độc tài tòan trị cộng sản), thực hiện chủ nghĩa Cộng sản.
         Vì thế cho nên cuộc trường chinh chống cộng phải tiếp tục chặng đường chống cộng giai đoạn hai (1954 – 1975) trong khung cảnh một thế chiến lược quốc tế mới hình thành sau Thế Chiến II (Chiến tranh ý thức hệ Cộng sản chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa)và trong thực trạng một đất nước chia hai, theo sự áp đặt của các cường quốc cực, thông qua Hiệp Định Genève 1954: Miền Bắc Cộng Sản, Miền Nam Quốc Gia. (Chiến tranh ý thức hệ: Cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa mang tính toàn cầu hình thành sau Thế Chiến II, diễn ra dưới hai hình thái Chiến Tranh Lạnh giữa các mước giầu, và chiến tranh nóng nơi một số nước nghèo có số phận không may như Việt Nam, với Việt quốc ở Miền Nam được tư bản chọn là “Tiền đồn Thế Giới tự do”và Việt cộng ở Miền Bắc được cộng sản quốc tế chọn là tên lính xung kích thức hiện “Chiến tranh cách mạng”để nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam và các quốc gia trong vùng . Đất nước Việt Nam trở thành bãi chiến trường, nhân dân hai miền như bia đở đạn cho các thế lực khuynh đảo quốc tế tiêu thụ hết lượng vũ khí đạn dược tồn đọng sau thế chiến II và thử nghiệm thêm các loại vũ khí mới… ),
         Tại Miền Bắc, ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam, sau khi chiếm được một nửa đất nước, đã xây dựng và củng cố một chế độ độc tài tòan trị cộng sản, theo mẫu mực của đế quốc Đỏ hàng đầu Liên Sô thời bấy giờ.Tuy nhiên, để che đây thực chất này, Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam đã dùng lại danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” của bản Hiến pháp 1946, ban hành sau khi Nhật bại trận trong Thế Chiến II (1939-1945), buộc phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Lúc đó ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam nhờ thủ đọan khôn khéo, kỷ thuật vận động quần chúng hữu hiệu, nên đã nhanh tay chủ động cướp chính quyền bằng sức mạnh của quần chúng, tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp Quốc - Cộng do Hồ Chí Minh đứng đầu và sau đó hòan tòan bị Cộng đảng Việt Nam khuynh lóat. Và để tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế, Cộng sản Bắc Việt đã làm nhiệm vụ tên lính xung kích cùa cộng sản quốc tế (Nga-Tầu), phát động cuộc chiến  “Nồi da xáo thịt” nhằm thôn tính nhuộm đỏ Miền Nam, vùng đất tự do, với chính quyền Quốc Gia trong tư thế chính thống, chính danh, có chính nghĩa, kế tục quyền lực quốc gia, tiếp nhận độc lập chủ quyền từ tay thực dân Pháp trên một nửa đất nước ở Miền Nam, kiến tạo một chế độ dân chủ (Việt nam Cộng hòa) đáp ứng đúng ý nguyện của nhân dân Việt Nam.
         Trong giai đọan này, cả hai phe Quốc – Cộng đều có tư thế quốc gia, có lãnh thổ, chính quyền quân đội và nhân dân, hành xử quyền cai trị đối nội cũng như đối ngọai, với sự trợ giúp của ngọai bang thuộc hai phe đối đầu: cộng sản và tư bản. Cộng sản Bắc Việt (CSBV), sau năm năm củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, đã thành lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”(12-1960) rồi sau đó đẻ ra “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” (1967)  làm công cụ chính trị phát động và tiến hành chiến tranh xâm lăng Miền Nam, với sự trợ giúp của Nga –Tầu và các nước trong phe “Xã Hội Chủ Nghĩa” Đông Âu.
          Trong khi đó, tại Miền Nam Việt Nam, chính quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), với sự trợ giúp của Hoa Kỳ và các cường quốc tư bản,  theo đuổi một cuộc chiến tranh tự vệ, với mục đích ngăn chặn, đẩy lùi và đập tan ý đồ xâm lăng của CSBV, xây dựng và củng cố chế độ dân chủ, phát triển kinh tế  ngày càng vững mạnh, tiến tới thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, với sự ưu thắng của một Miền Nam dân chủ, giầu mạnh trên chế độ độc tài tòan trị cộng sản, lạc hậu và nghèo nàn ở Miền Bắc (Như thực tế đã xẩy ra  ở nước Đức qua phân và sẽ xẩy ra ở  Triều tiên  trong tương lai không xa).
       Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng kéo dài 21 năm (1954-1975), với kết cuộc phe Quốc Gia một lần nữa  bị thua cuộc, CSBV đã thôn tính được Miền Nam, thống trị tòan đất nước bằng một chế độ độc tài tòan trị CS.
       Hệ quả là, chế độ dân chủ VNCH cáo chung, chính quyền VNCH sụp đổ, Quân lực VNCH tan rã, hầu hết sĩ quan và lãnh đạo chính quyền các cấp VNCH bị  CS đầy ải, hành hạ, xỉ nhục  trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Một thiếu số quan chức chính quyền, quân đội và nhân dân Miền Nam  kịp di tản ra hải ngọai trước ngày 30-4-1975, và vượt biên nhiều năm sau đó, qui tụ thành những Tổ Chức Cộng Đồng, các đảng phái chính trị và tổ chức đấu tranh,đoàn thể xã hội, tôn giáo tiếp tục công cuộc chống cộng giai đọan 3 vì tự do dân chủ cho Đất nước.
   3/- Giai đọan 3  ( Từ 1975. . . đến ngày kết thúc)
      (Xin trình bầy chi tiết ở phần II)
3.- Động lực chống cộng và mục tiêu sau cùng phải thành đạt là gì?
       Trong cả ba giai đọạn chống cộng nêu trên, chúng ta, các thế hệ những người Việt Nam không cộng sản đều có chung động lực là lòng yêu nước, tình yêu thương dân tộc và trách nhiệm đối với đất nước, tiền đồ Tổ Quốc Việt Nam.
        Như vậy, trước sau gì công cuộc chống cộng của chúng ta đều xuất phát từ lòng yêu nước, chứ không phải vì lòng căm thù, dù qua các giai đọan chống cộng, Việt cộng đã  gây ra quá nhiều thù hận. Nhưng lòng thù hận chỉ là cảm tính, động lực cá nhân, là hậu quả do cách hành xử của Việt cộng đối với Việt quốc gây ra, chỉ sau khi khởi sự và trong quá trình phân tranh Quốc- Cộng. Trong khi, mọi người tham gia công cuộc chống cộng khởi đi từ động lực là lòng yêu nước, ngay từ khi Việt cộng chưa gây ra thù hận.
      Sự thể này chứng tỏ chúng ta chống cộng do động lực là lòng yêu nước chứ không phải vì thù hận, chống cộng không phải để trả thù, mà chống cộng vì mục đích cao cả, để thành đạt mục tiêu tối hậu: “Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản,dân chủ hóa đất nước”, tạo tiền đề xây dựng và phát triển toàn diện Đất nước đến phú cường và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân loại, của cộng đồng các quốc gia trên thế giới; để mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam  được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, với các nhân quyền,dân quyền được tôn trọng, bảo vệ và hành xử; để mọi người dân Việt không biệt giai tầng xã hội, sắc tộc, tín ngưỡng có được một đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của con người.
      Vì vậy, mục tiêu tối hậu củaViệt quốc, không phải là tiêu diệt đến người cộng sản Việt Nam cuối cùng, mà chỉ làm “phản tỉnh” và lọai trừ  cơ hội cho người cộng sản không thể độc chiếm quyền lực, thực hiện một chế độ độc tài tòan trị cộng sản trên đất nước Việt Nam ta. Để sau đó, thay thế bằng một chế độ dân chủ đích thực, chứ không phải là chế độ độc tài không cộng sản hay bất cứ một chế độ dân chủ giả hiệu nào.
         Nghĩa là chúng ta sẽ tiếp tục chống chống cho đến khi nào thành đạt mục tiêu tối hậu này: Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản,dân chủ hóa Đất nước, thì cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc - Cộng tại Việt Nam coi như chấm dứt.

II/-VIỆT QUỐC ĐÃ CHỐNG CỘNG THẾ NÀO TRONG 36 NĂM QUA VÀ HIỆU QUẢ RA SAO?
     Như vậy là trong giai đoạn chống cộng cuối cùng này Việt quốc phải thành đạt trọn vẹn hai yêu cầu theo một trình tự: làm tiêu vong chế độ độc tài toàn trị của Việt cộng trước, xây dựng chế độ tự do dân chủ sau.
     Câu hỏi đặt ra là: Để thành đạt hai mục tiêu tối hậu trên, Việt Quốc đã làm gì trong 36 năm qua và hiệu quả thế nào?
      Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi lần lượt trình bầy:
- Thực tế chống cộng 36 năm qua của Việt quốc.
- Hiệu quả của các hoạt động chống cộng 36 năm qua của Việt quốc..
1.-Thực tế chống cộng 36 năm qua của Việt quốc.
         Như vậy là mục tiêu tối hậu căn bản của công cuộc chống cộng 36 năm qua là: tiêu diệt chế độ độc tài toàn trị nhất nguyên cộng sản chủ nghĩa và xây dựng một chế độ dân chủ đa nguyên tư bản chủ nghĩa?
       Để thành đại hai mục tiêu chủ yếu, tối hậu trước sau này, Việt quốc đã chống cộng thế nào trong 36 năm qua?
      a)Thực tế chống cộng trong nước:
          Trong nước đã hình thành các tổ chức chống cộng rất sớm, ngay từ những ngày tháng năm đầu sau khi Việt cộng chiếm được Miền Nam, chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử. Ngoài nước thì hình thành các tổ chức và tiến hành các hoạt động chống cộng trễ hơn, do phải lo ổn định cuộc sống trước đã. Nhưng cả trong và ngoài nước, các tổ chức chống cộng lúc đầu đã gặp nhau ở chủ trương tiêu diệt cộng sản bằng sức mạnh quân sự trong những ngày tháng năm đầu, và kéo dài khoảng 10 năm (1975-1985).
           * Thời khoảng 1975-1985:
      Trong nước nhiều tổ chức chống cộng ra đời như một cao trào đầy khí thế.Những tổ chức chống cộng tiêu biểu lần lượt ra đời như Mặt Trận Phục Quốc, Mặt Trận Liên Bang Đông Dương, Mặt Trận Liên Tôn, Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Dân Tộc, Mặt Trận Việt Nam Tự Do, Mặt Trận Nhân Quyền … Tất cả đều do những nhân vật có tiếng tăm trong quá khứ hay vô danh, dùng bí danh hay mượn tên người nổi danh dựng cờ khởi nghĩa chống cộng.
         Trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, các tổ chức chống cộng thường khó biết được thực lực, và lãnh tụ thực sự là ai. Các tổ chức đều nuôi sống hoạt động và giữ vững niềm tin của chiến hữu và niềm hy vọng trong nhân dân chống cộng bằng các tin đồn đầy lạc quan.Rằng “Mỹ đi,rồi Mỹ trở lại”, đây chẳng qua chỉ là kế sách gài bẫy của Hoa Kỳ như để thực hiện một nhận định chung của Bộ Trưởng Quốc Phòng Do Thái Moise Dayang khi đến thăm chiến trường Việt Nam và Sir Wilson người Anh Cố vấn du kích chiến cho quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam: “Muốn chiến thắng cộng sản cần cộng sản hóa Việt Nam”.
         Vì vậy,những người muốn dấn thân vào con đường chống cộng trong thời khoảng này cũng nóng lòng tìm đường vào bưng biền, tham gia các tổ chức chống cộng lập chiến khu, hướng lòng theo những tin đồn về vị Tướng này, Tướng nọ của quân đội VNCH đã rút quân vào rừng, đang chỉ huy lực lượng tàn quân lập chiến khu ở nơi này nơi kia để chờ ngày X giờ G quay lai giải phóng toàn cõi đất nước .
         Riêng người viết lúc đầu cũng có khuynh hướng này, đã bàn với một số anh em thân thiết,như Ls Lý Quốc Sỉnh, Ls. Trần Tấn Thái, (là hai người thầy chủ văn phòng chúng tôi tập sự luật sư), Gs. Trần Văn Phổ, Gs. Bùi Việt Quý (hai đồng nghiệp cùng dạy tại Trường La San Hiền Vương Sài gòn)…rằng nếu ai tìm được đường giây nào vào bưng biền chống cộng khả tín, thì kêu anh em cùng đi. Chúng tôi cũng đã có các cuộc tiếp xúc bí mật với người của một cánh quân nói là đang có mật khu ở vùng Long Khánh…Thế nhưng, Việt cộng đã lợi dụng tình hình mập mờ, tranh tối tranh sáng này, cùng với sự thiếu kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động bí mật của các chiến hữu chống cộng, nên an ninh, công an Việt cộng đã dễ dàng đẻ ra các tổ chức chống cộng giả hoặc gài người vào các tổ chức chống cộng thật để gài bắt và phá vỡ các tổ chức chống cộng từ trong trứng nước hay sau một thời gian hoạt động…
         Nhưng cũng có những tổ chức với lãnh tụ người thật việc thật tiêu biểu tiên khởi như Mặt Trận Phục Quốc với luật sư Nguyễn Khắc Chính, Linh mục Chu Quang Minh khởi động công cuộc chống cộng rất sớm, chỉ ít tháng sau ngày 30-4-1975 qua vụ Việt cộng gọi là “phản động Nhà Thờ Vinh Sơn” trên đường Trần Quốc Toản Sài gòn.( Ls. Nguyễn Khắc Chính sau đó bị Việt cộng kết án tù chung thân và Lm. Chu Quang Minh 5 năm tù). Mặt Trận Liên Tôn của Linh mục Nguyễn Văn Vàng thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam,Ngài được suy cử là Quốc Trưởng Việt Nam lầm thời(sau bị kết án chung thân đã chết trong tù, có thời gian chung tù với người viết (1980) ở  buồng giam11, khu F khám Chí Hòa) và bào đệ Thiếu tá nhẩy dù Nguyễn Văn Viên là Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam lâm thời, (sau bị kết án tử hình đã bị xử bắn),với mật khu Phụng Thiên ở vùng Long Khánh làm căn cứ địa để thu hút chiêu binh tụ nghĩa chống cộng. Mặt Trận Việt Nam Tự Do với Luật sư Vũ Ngọc Truy (nếu chúng tôi nhớ không lầm); Cao Trào Nhân Bản của Bs, Nguyễn Đan Quế hay Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam mà người viết đã tham gia thành lập và hoạt động, với Chủ tịch là Gs. Nguyễn Đình Phượng,gốc đảng Đại Việt.
        Sở dĩ chúng tôi tham gia việc thành lập và hoạt động trong Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam vào năm 1977, vì chỉ một năm sau ngày Việt Nam Cộng Hòa cáo chung, chúng tôi đã kịp nhận thức được chủ trương dùng bạo lực quân sự chống cộng là lỗi thời, không hữu hiệu và không thực tế, là húc đầu vào đá. Vì thời kỳ chiến tranh Quốc-Cộng vừa qua, với sự trợ giúp dồi dào nhiều mặt của Hoa Kỳ và các nước đồng minh,Việt quốc đã thất bại trong việc dùng sức mạnh quân sự tiêu diệt Việt cộng, dù Việt quốc chiếm ưu thế tuyệt đối trong tương quan lực lượng quân sự . Nay tình thế đã đổi thay Việt cộng chiếm ưu thế tuyệt đối trong tương quan lực lượng nên Việt quốc cần chống cộng theo phương cách khác có hiệu quả,phù hợp với thực lực và biến chuyển của tình hình quốc tế và quốc nội. Vì thực tế chiến lược toàn cầu của các cường quốc cực đã thay đổi, cuộc chiến tranh ý thức hệ trên phạm vi toàn cầu đã đi vào thời kỳ cáo chung, để hình thành một chiến lược toàn cầu mới. Cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam chấm dứt cũng là do yêu cầu thay đổi của thế chiến lược quốc tế mới này, nên mới có hiện tượng nghịch lý: Việt quốc là  phe mạnh về quân sự , có chính nghĩa, nhưng đã phải đóng vai thua bại trước đối phương Việt cộng, là phe yếu kém về quân sự, mạnh về vận động tuyên truyền thủ đoạn chính trị dù  ngụy nghĩa.
         Từ nhận thức trên,chúng tôi đã khởi thảo cô đọng tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Toàn Cầu Mới của các Cường Quốc Cực” phổ biến hạn chế trong một số anh em thân tín.( Ra hải ngoại năm 1992, viết lại với đầy đủ chi tiết hơn,thành tài liệu nghiên cứu lý luận”Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” ấn hành lần đầu 1995 và tái bản 2005. Có thể vào Web Site Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam:luatkhoavietnam.com vào muc “Diễn Dàn”, tiểu mục “Tác giả & tác phẩm để đọc và nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả năm 1995).
       Đến năm 1977 khi tham gia thành lập và hoạt động trong Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam, tài liệu nghiên cứu lý luận trên của chúng tôi đã được tổ chức cho phổ biến như tài liệu học tập nội bộ, để mọi người nhìn thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm” mà kiên trì đấu tranh .  
         Trong nhiệm vụ thuyết trình trước một phiên họp bí mật tại tư gia “Thầy giáo Phượng” thuộc Giáo sứ Bình An Thượng Quận 8 Sài gòn, để chính thức thành lập Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam (MTNQVN), với hầu hết là các bậc cha chú, từng hoạt động trong một số chính đảng quốc gia có truyền thống đấu tranh chống thực dân Pháp và Việt cộng,chúng tôi đã trình bầy dự thảo về cơ cấu tổ chức, chính cương và sách lược đấu tranh, bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Việt Nam 1977 của MTNQVN. Sau khi thảo luận và biểu quyết thông qua, đã hình thành bộ phận lãnh đạo trung ương, với Chủ tịch MTNQVN là Gs. Nguyễn Đình Phượng, cá nhân tôi được cử là Ủy Viên Nghiên Huấn…
      Chính cương và sách lược đấu tranh của MTNQVN đã nhận định chiều hướng biến chuyển của tình hình thế giới và Việt Nam trong thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực,cũng như tương quan lực lượng không cân sức giữa Việt Quốc  và Việt cộng, không thể dùng bạo lực quân sự để thành đạt mục tiêu tối hậu (Tiêu diệt độc tài cộng sản , xây dựng tự do dân chủ) trong một thời gian mau chóng được. Vì vậy cần chuẩn bị cho một cuộc kháng cộng trường kỳ, lấy “nhu thắng cương, nhược thắng cường”, bằng “vũ khí nhân quyền” là chủ yếu để tấn công Việt cộng . Tấn công Việt cộng trên ba mặt trận chủ yếu: Chính trị, ngoại giao và truyền thông, theo “thế cài răng lược” bằng cơ cấu tổ chức và nhân sự lãnh đạo các hoạt động chống cộng từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở trong nước giữa các cấp “Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam” với “Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Đồng thời MTNQVN tìm cách liên kết với các tổ chức chống cộng hải ngoại, thống nhất đấu tranh theo sách lược chung hữu hiệu, nhằm quy tụ sức mạnh quần chúng Việt Nam trong cũng như ngoài nước(vốn là lực lượng chống cộng chủ yếu có tính quyết định trong giai đoạn sau cùng này) và tranh thủ sức hậu thuẫn quốc tế trên mặt trận ngoại giao, quốc tế vận (vốn là sức mạnh hổ trợ cần yếu không thể thiếu)
         Mặc dầu rất cẩn trọng, tổ chức MTNQVN cũng như nhiều tổ chức chống cộng khác trong thời khoảng này, cũng đã bị công an Việt cộng gài người và phá vỡ do những sơ hở trong tổ chức và hoạt động, sau gần hai năm hoạt động .(Kẻ thực hiện “gài người” này là  Đỗ Hữu Cảnh, bí danh nằm vùng Ba Sơn, sau 1975 là công an phòng “Bảo vệ chính trị” là một đông môn, đồng nghiệp.Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết trong một tài liệu nghiên cứu khác sau này khi có điều kiện và sức khỏe cho phép).
      Có thể nói sau 10 năm (1975-1985) tận dụng mọi thủ đoạn, mọi phương cách, kỹ thuật đặc tình, đánh phá các tổ chức và trấn áp các cá nhân chống cộng nhiệt thành tự phát hay có tổ chức, song vì tổ chức lỏng lẻo, thiếu kinh nghiệm hoạt động bí mật,tổ chức chưa vững đã tung ra các hoạt động chống cộng nặng tính phô trương… nênViệt cộng đã thành công trong việc “truy quét phản động”, ổn định được tình hình an ninh chính trị, từng bước củng cố cơ cấu đảng và chính quyền công cụ để xây dựng cái gọi là “chế độ cộng hòa xã hội chủ nghĩa”, độc tài toàn trị sắt máu tại Việt Nam.
            * Thời khoảng 1985-1995:
        Thời khoảng 10 năm kế tiếp này (1985-1995), các tổ chức và cá nhân chống cộng trong nước, nếu tồn tại được đều rút vào bí mật hoàn toàn, không còn có những hoạt động chống cộng ồn ào, đầy khí thế như thời khoảng 10 năm trước. Ngay cả những chính đảng quốc gia có truyền thống chống ngoại xâm và chống cộng quyết liệt như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng…trong thời khoảng này cũng phải thúc thủ, mai phục chờ thời cơ.
        Tuy nhiên,trong thời khoảng này hai tổ chức chống cộng được quốc tế và nhiều người bắt đầu biết đến là “Cao Trào Nhân Bản” của Bs. Nguyễn Đan Quế.(hình thành từ thời khoảng 1975-1985) và  “Diễn Đàn Tự Do” của Gs Đoàn Viết Hoạt. Thực lực của hai tổ chức này không ai biết rõ ra sao, nhưng đã được quốc tế hậu thuẫn có  lẽ vì chủ trương, đường lối đấu tranh cho các quyền nhân bản: tự do, dân chủ,nhân quyền một cách hòa bình, phù hợp với chiều hướng chiến lược quốc tế mới:Diệt cộng chủ yếu không bằng “Mật đắng” (bạo lực quân sự ) mà chủ yếu bằng “Mật ngọt” ( kinh tế thị trường) và sức mạnh của nhân dân (bạo lực quần chúng). Vì vậy, vào thời khoảng này hai người đứng đầu tổ chức là gs. Đoàn Viết Hoạt và Bs. Nguyễn Đan Quế dù đang bị Việt cộng bắt cầm tù, song thanh thế đã phát triển ngày một mạnh mẽ trên trường quốc tế cho đến hôm nay, mặc dầu cũng bị khuynh hướng chống cộng bảo thủ, cực đoan chống phá, chụp mũ “Hòa giải hòa hợp…” và đặc tình truyền thông Việt cộng nằm vùng tương kế tựu kế đánh hôi, khai thác triệt để mâu thuẫn nội bộ này của Việt quốc.
       Vì vậy, có thể nói trong thời  khoảng này không có hoạt động chống cộng nổi bật nào của tổ chức hay cá nhân chống cộng trong nước đáng ghi nhận. Điều đáng ghi nhận một tổ chức chống cộng tiêu biểu có thực lực ở hải ngoại là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN) đã đưa người xâm nhập quốc nội, song đã bị Việt cộng chặn bắt từ biên giới Lào- Việt, một số bị giết trong đó có thủ lãnh của tổ chức này là Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và một người bạn cùng lớp thời Trung học của chúng tôi là Trịnh Văn Hợi, một số bị bắt sống thì bị đưa ra tòa kết án nặng nề, tối đa là chung thân hay tử hình.
       Về phía Việt cộng, dù không gặp sự “quấy phá” đáng kể nào của pheViệt quốc, được yên ổn tiến hành cái gọi là cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa”, song vẫn đã thất bại hoàn toàn trong mục tiêu xây dựng cái gọi là “chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,dù đã theo gương Liên- Xô đi vào con đường “Đổi mới” (Kinh tế) từ sau 1986.
     *Thời khoảng 1995 – 2011:
       Thất bại hoàn toàn trong mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa, Việt cộng đã phải theo gương Liên Xô đi vào con đường “Đổi mới” như Liên Xô,Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của mình, nhưng chỉ “Đổi Mới” kinh tế (kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa) mà không “Đổi Mới” chính trị như Liên Xô (dân chủ đa nguyên đa đảng) vì sợ mất quyền thống trị độc tôn của Cộng đảng Việt Nam trong một chế độ độc tài đảng trị.
         Thế nhưng chính sự cố bám víu quyền lực này,sau 10 năm “Đổi Mới” ỳ ạch (1985-1995) kinh tế vẫn suy sụp, “Đế quốc Mỹ” cựu thù đã quay lại cho thiết lập quan hệ ngoại giao, giúp vực dậy công cuộc“Đổi mới” của Việt Cộng để có những bước phát triển “nhẩy vọt”, không phải “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghĩa Xã Hội” bằng con đường “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”mà đã và đang “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa tư bản” ,vì con đường “Kinh tế thị trường” tất yếu phải “định hướng tư bản chủ nghĩa”. Và chính con đường này đã tạo được những bước phát triển “nhẩy vọt” để Việt Nam có được bộ mặt phồn vinh (giả tạo) hôm nay (chứ không phải do con đường kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa như Việt cộng ngụy biện).
         Thế nhưng,cũng chính sự “Đổi mới kinh tế” chuyển biến theo chiều hướng này, đã bào mòn, phá đổ từng bước bản chất con người cộng sản và cơ cấu độc quyền thống trị của Cộng đảng và nhà nướcViệt cộng, trước một nguy cơ mà Việt cộng biết nhưng không làm gì được, nguy cơ “Diễn biến hòa bình”. Vì đổi mới kinh tế là cùng lúc mở cửa cho các trào lưu tư tưởng và lối sống tự do từ các nước dân chủ tư bản chủ nghĩa ùa vào làm chuyển biến con người (nhân dân giác ngộ dân chủ, vượt qua sợ hãi, cũng như cán bộ đảng viên CS phản tỉnh ngày càng đông), chuyển biến chính trị,văn hóa, xã hội theo qui luật “lượng đổi, chất đổi” không thể cưỡng lại được (như thực tế cuộc sống con người và xã hội Việt Nam ngày nay…).
         Diễn biến hòa bình ấy đã và đang diễn ra ai cũng thấy, có thể kiểm chứng được qua thực tế, kể cả Việt cộng cũng biết nhưng chẳng biết làm gì hơn là “Cảnh giác nội bộ” (về âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch) và đối phó với nhân dân bằng chính sách “Đắp đập be bờ” dù thâm tâm biết rằng chỉ là sự vá víu không thể ngăn được diễn biến đang tiến dần tới “Biên độ tức nước vỡ bờ”.
         Vì vậy trong thời khoảng này (1995-2011) Việt quốc chống cộng trong nước cũng như ngoài nước đã khai thác triệt để nguy cơ “Diễn biến hòa bình” này để chống cộng qua những cao trào đấu tranh nở rộ, đều khắp cả nước, từ mọi giai tầng xã hội, với tinh thần đầy lạc quan tin tưởng ở tương lai về một cơ hội giành chiến thắng sau cùng của sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho Đất nước.…..
     Thật vậy, như chưa từng có trước đây,nay nhiều cuộc biểu tình của công nhân, nông dân, dân oan đòi các quyền lợi dân sinh, đòi quyền lợi kinh tế, đòi công bình xã hội đã nổ ra và ngày một gia tăng số lượng, mức độ lan rộng và cường độ đấu tranh. Từ biểu tình đòi quyền lợi kinh tế, các quyền lợi dân sinh đến biểu tình mang tính chính trị,đòi dân chủ đa nguyên; hay các cuộc biểu tình không chống chính quyền trực tiếp, nhưng gián tiếp qua chống ngoại bang xâm lược, để Việt cộng phải lộ bộ mặt phản dân hại nước, thừa sai của ngoại bang, bán nước,tự đổ thêm dầu vào lửa, đẩy “tức nước” đến gần  “biên độ vỡ bờ” hơn, khi cho đàn áp các cuộc biểu tình yêu nước này.
    Mặt khác, nhiều người dân trong thời khoảng này, thuộc nhiều thành phần, giai cấp xã hội, đã giám lên tiếng tự phát cách này cách khác phê bình, chỉ trích công khai có mức độ chính sách sai lầm của nhà nước hay tố cáo những cá nhân cán bộ đảng viên cộng sản có chức có quyền, tham ô, cường hào, ác bá cướp đoạt đất đai, tài sản của nhân dân, của các giáo hội (Điều mà giai đoạn trước chắc chắn bị Việt cộng triệt hạ,đàn áp thẳng tay bằng thủ tiêu, nhà tù, lao động khổ sai cho đến chết…).
         Một số chính đảng và tổ chức đấu tranh hình thành từ các giai đoạn trước cũng như mới thành lập trong thời khoảng này, đã tung ra các hoạt động công khai, bán công khai hợp pháp cũng như bất hợp pháp, liên kết với Việt quốc hải ngoại, đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đòi chế độ đa nguyên đa đảng, dù Việt Cộng có đàn áp, bỏ tù, nhưng ở mức độ không triệt để, theo kiểu “mềm nắn, rắn buông”,bắt bỏ tù, thả rồi bắt… tùy theo áp lực quốc tế có ảnh hưởng ít nhiều.
         Một số tổ chức mới tiêu biểu như Đảng Dân Chủ Việt Nam(công cụ trang trí bộ mặt dân chủ giả hiệu của Cộng đảng Việt Nam trước đây) nay đã được những cựu đảng viên công sản phản tỉnh (Gs.Hoàng Minh Chính, Gs.Trần Khuê…) phục hoạt; Khối 8406 tổ chức qui tụ các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước đa số là các đảng viên cộng sản “phản tỉnh”, rồi đảng Thăng Tiến ra đời, Liên đảng Lạc Hồng…Tất cả các tổ chức này vẫn đang phát triển tổ chức trong nước, mở rộng ra hải ngoại, với nhiều hoạt hoạt động đấu tranh tích cực dưới nhiều hình thức, dù bị nhà cầm quyền Việt cộng không ngừng trấn áp, song thực tế cũng đã có những bước phải lùi dần về phía dân chủ.(Đây là giai đoạn quá độ từ “thử nghiệm dân chủ” qua “thực hành dân chủ” để tiến đến nền “Dân chủ đa nguyên” như chúng tôi đã nhận định  trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc tế Mới” phát hành lần đầu năm 1995 và tái bản năm 2005)
       b) Thực tế chống cộng ở hải ngoại:
    * Thời khoảng 1975-1985:
       Trong thời khoảng này,tại hải ngoại, sau ngày 30-4-1975 hầu hết những người kịp di tản và sau đó vượt biên bằng mọi phương tiện,là những Việt quốc chống cộng, bao gồm các nhà lãnh đạo chính trị, quân, cán chính các cấp, các ngành cùng gia đình và thường dân Việt Nam.
         Những năm đầu, do phải lo ổn định cuộc sống, nên các hoạt động chống cộng có khởi động chậm hơn trong nước. Trong thời khoảng này, vào 5 năm cuối thập niên 70, chỉ có những hoạt động chống cộng lẻ tẻ của một số cá nhân hay tập thể trên các phương tiện truyền thông, chưa có những cuộc hôi thảo hay biểu tình qui mô lớn.Bước qua 5 năm đầu thập niên 80, các hoạt động chống cộng khởi sắc,các chính đảng quốc gia có trước năm 1975 như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng… bắt đầu chỉnh đốn tổ chức và đi vào các hoạt động chống cộng.
       Một vài tổ chức chống cộng mới hình thành, tiêu biểu tại Hoa Kỳ như Liên Minh Dân Chủ Việt Nam (1981)với lãnh tụ là Gs. Nguyễn Ngọc Huy (với đa số thành viên gốc tân Đại Việt). Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN) với người đứng đầu là Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh.  Liên Minh Quang Phục Việt Nam của Đại tá Võ Đại Võ Đại Tôn thành lập ở Úc. Tổ chức chống cộng của các ông Lê Quốc Quân, Mai Văn Hanh thành lập ở Pháp …Tất cả các chính đảng và các tổ chức chống cộng cũ mới đã có những hoạt động khơi dậy mạnh mẽ tinh thần chống cộng của Việt quốc hải ngoại thành các cao trào đấu tranh chống cộng ngày một phát triển sau này.
        Riêng tổ chức MTQGTNGPVN thời gian đầu sau khi thành lập,đã được nhiều người tham gia và đồng hương hổ trợ tài chánh dồi dào cho các hoạt động chống cộng, vì đáp ứng đúng yêu cầu cần thiết phải có tổ chức mạnh để tiếp tục chống cộng của Việt quốc hải ngoại.Nhưng sau này, do những sai lầm trong hàng ngũ lãnh đạo, bất minh trong xử dụng tài chánh đóng góp của quần chúng hải ngoại, đã làm mất dần sức hậu thuẫn của các cá nhân cũng như các tổ chức đoàn thể chống cộng Việt quốc ở hải ngoại.
     Trên thực tế, về mặt tích cực, Mặt trận này đã có những hoạt động chống cộng cụ thể như lập chiến khu ở biên giới Thái-Lào,huấn luyện đưa người xâm nhập Việt Nam bằng hai cuộc Đông Tiến I và II .Nhưng đã bị Việt cộng chặn đánh trên đường xâm nhập, Chủ tịch Mặt Trận là Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh bị tử thương cùng nhiều chiến hữu khác. Số còn lại thì bị Việt Cộng bắt đem ra xét xử công khai vào khoảng năm 1982-1983, trong một phiên tòa của cái gọi là “Tòa án Nhân Dân” kéo dài nhiều ngày tại Trụ Sở Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa trước đây ( Việt cộng đã kết thúc phiên tòa này bằng những bản án nặng nề từ 5 năm đến chung thân hay tử hình các chiến sĩ của Mặt Trận).
      Về tổ chức chống cộng được thành lập ở Pháp trong thời khoảng này với người đứng đầu là Ông Lê Quốc Quân ( chúng tôi không còn nhớ tên tổ chức) đã đưa các ông Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá và dường như cả Ông Lê Quốc Quân xâm nhập Việt Nam. Việt cộng đã chặn bắt tại biên giới các tỉnh Miền Tây Nam Phần Việt Nam hai ông Mai Văn Hạnh và Trần Văn Bá, còn Ông Lê Quốc Quân thì thoát được do xâm nhập trễ hay thay đổi kế hoạch vào phút chót thì phải? Việt cộng sau đó đã đem ra xử và kết án Ông Mai Văn Hạnh chung thân (sau đó được chính phủ Pháp can thiệp vì là công dân Pháp, cựu viên chức tình báo  Pháp nên được trở về Pháp xum họp gia đình sau  ít năm ngồi tù). Còn Ông Trần Văn Bá,Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, một thanh niên yêu nước nồng nàn, không có thế ngoại bang nào can thiệp, kể cả Pháp quốc mà Ông mang quốc tịch, quốc tế làm ngơ thì bị Việt cộng tuyên án tử hình và đem xử bắn (1985)chỉ vì hành động anh hùng biểu lộ lòng yêu nước của mình.(Việt cộng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc về những hành vi sát hại những người yêu nước như Trần Văn Bá, là những người anh hùng con yêu của Tổ Quốc Việt Nam).
    
   * Thời khoảng 1985-1995
         Sau 10 năm ổn định cuộc sống, Việt quốc di tản bắt đầu qui tụ thành các tổ chức cộng đồng, các chính đảng quốc gia cũ bắt đầu phục hoạt hay các chính đảng và tổ chức đấu tranh chống cộng mới được hình thành, mặc nhiên đóng vai trò của bộ phận lãnh đạo quần chúng chống cộng. Kể từ đó, các hoạt động chống cộng thường được khởi phát từ tổ chức Cộng Đồng, hay do một đảng phái chính trị, một tổ chức đấu tranh độc lập hay kết hợp.
         Các hoạt động chống cộng thường diễn ra sôi nổi dưới các hình thức hội thảo, biểu tình, ra tuyên ngôn, tuyên cáo, lập kháng thư tố cáo trước công luận tội ác quá khứ cũng như hiện tại của Việt cộng, mỗi khi có những biến cố trong nước liên quan đến những vụ bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chính kiến, những hành vi đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền và các quyền dân chủ, dân sinh của nhà cầm quyền Việt cộng….
        Dường như lúc đầu Việt quốc tại hải ngoại, cũng như Việt quốc trong nước, cũng có chủ trương giải phóng Việt Nam bằng bạo lực quân sự kết hợp với bạo lực quần chúng nhân dân trong nước nổi dậy, nên mới có sự ra đời của một tổ chức chính trị tiêu biểu là “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam”, lãnh tụ là Phó Đề Đốc Hải Quân VNCH Hoàng Cơ Minh, với “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (gọi tắt là Đảng Việt Tân) lãnh đạo Mặt Trận theo kiểu “Đảng Cộng Sản Việt Nam” lãnh đạo “Mặt Trận Việt Minh” trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp …
         Nhưng có lẽ vì chủ trương dùng bạo lực chống cộng không thích dụng và trái chiếu với “Chiến Lược Quốc Tế  Mới của Các Cường Quốc Cực”, nên cả hai cuộc Đông Tiến I và Đông Tiến II, đưa người xâm nhập Việt Nam của Mặt Trận này đã thất bại với lãnh tụ Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và nhiều chiến hữu khác đã phải hy sinh trên đường xâm nhập và một số khác bị bắt cầm tù nhiều năm sau đó. Có lẽ lãnh đạo của tổ chức này đã nhìn ra được vấn đến, nên đã thay đổi sách lược chống cộng vào thời khoảng sau này. Nhưng chính sự thay đổi sách lược này đã đưa đến phân hóa nội bộ tổ chức giữa hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến. Và cũng có lẽ vì vậy mà hầu hết các tổ chức chống cộng trong nước có chủ trương dùng bạo lực tiêu diệt cộng sản đã lần lượt bị phá vỡ và cũng đã thay đổi sách lược trong thời khoảng sau này, như nhiều người đã biết.
      Sau chủ trương dùng bạo lực quân sự để lật đổ Việt cộng không thức thời và không hiệu quả, chưa đúng thời cơ, các tổ chức chống cộng trong cũng như ngoài nước dường như đã thống nhất nhận định: Không thể dùng bạo lực quân sự để lật đổ Việt cộng (Vì tương quan lực lượng không cân sức, vì không phù hợp với chiều hướng chiến lược toàn cầu mới…) mà phải bằng phương cách khác hữu hiệu hơn.
         Phương cách khác hữu hiệu hơn đó là gì? Vẫn chưa có câu trả lời thống nhất của toàn khối Việt quốc chống cộng trong cũng như ngoài nước. Hệ quả thực tế đã đưa đến xung khắc trong nội bô Việt quốc giữa hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và chống cộng cấp tiến.
        Khuynh hướng chống cộng bảo thủ chủ trương vẫn duy trì những phương cách chống cộng như từ 36 năm qua để thành đạt mục tiêu tối hậu tiêu diệt hoàn toàn Việt cộng, để thiết lập chế độ tự do dân chủ hoàn toàn không có Việt cộng. Nghĩa là giữa Việt quốc và việt cộng phải một mất (Việt cộng) một còn (Việt quốc).Vì vậy khuynh hướng này kiên đinh không chấp nhận “Hòa giải hòa hợp với Việt cộng” và quyết liệt chống lại khuynh hướng chống cộng cấp tiến bằng mọi cách và mọi giá như thực tế đã và đang tiếp tục xẩy ra nhiều nơi ở hải ngoại.
     Khuynh hướng chống cộng cấp tiến thì chủ trương duyệt xét lại toàn bộ phương thức chống cộng 36 năm qua, loại bỏ những phương cách lỗi thời, không hiệu quả hay phản tác dụng, tiếp tục những phương cách chống cộng còn hợp thời và có hiệu quả. Đồng thời sáng tạo thêm những phương cách chống cộng phù hợp với biến chuyển tình hình thực tiễn trong nước và quốc tế để có hiệu quả.
         Phương cách sáng tạo của khuynh hướng này là, trực tiếp đối đầu, đối thoại, đấu tranh trực diện với Việt cộng từ trong nước ra hải ngoại, trên mọi lãnh vực chủ yếu (chính trị:dân chủ, dân sinh,dân quyền, nhân quyền. Kinh tế: tự do. Xã hội: công bằng. Đời sống nhân dân: ấm no, hạnh phúc…) để nêu cao chính nghĩa, thuyết phục,tranh thủ sức hậu thuẫn của nhân dân trong nước và đồng bào hải ngoại (Nội lực chủ yếu triệt tiêu chế độ độc tài toàn trị Việt cộng) và sức hậu thuẫn quốc tế (là ngoại lực chủ yếu có tác dụng chuyển đổi chế độ độc tài toàn trị Việt cộng đi vào quỹ đạo chiến lược quc tế mới: Thị trường tự do hóa và dân chủ hóa toàn cầu).
         Thế nhưng sự khác biệt căn bản giữa hai khuynh hướng chống cộng là: Cấp tiến chấp nhận sự tồn tại của Việt cộng trong nền dân chủ đa nguyên hình thành sau khi tiêu diệt chế độ độc tài toàn trị Việt cộng (Như Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu hậu cộng sản). Khuynh hướng bảo thủ thì không. Nghĩa là một mất, một còn, trong chế độ dân chủ hậu cộng sản, không đa nguyên mà nhất nguyên quốc gia chủ nghĩa,đảng cộng sản không có chỗ đứng, đảng viên phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản nếu muốn tồn tại, tham gia vào nền dân chủ nhất nguyên này.
          Chính những khác biệt căn bản trên đã dẫn đến xung khắc nội bộ Việt quốc, trong nước âm thầm không có điều kiện bộc phát như ở hại ngoại, nên không thấy, mà chỉ thấy xung khắc khốc liệt nội bộ Việt quốc chống cộng ở hải ngoại với các cuộc xung đột gây bất ổn triền miên trong các cộng đồng Việt quốc chống cộng hải ngọai,trong thời khoảng này, gia tăng mức độ và cường độ  cho đến hiện nay.
          Ai cũng thấy hậu quả tai hại do cách ứng xử không lành mạnh của hai khuynh hướng này, đã làm phân hóa nội bộ các  tổ chức và suy yếu sức mạnh toàn khối Việt quốc chống cộng.Thế nhưng, thực tế vẫn chưa tìm được sự đồng thuận giữ hai khuynh hướng chống cộng về phương cách chống cộng để thành đạt mục tiêu chung: diệt độc tài toàn trị cộng sản, xây dựng tự do dân chủ đa nguyên cho Quê Mẹ Việt Nam.
      Vì vậy trong thời khoảng này, một tổ chức chúng tôi cho là tiêu biểu cho một sách lược chống cộng thức thời, cấp tiến có viễn kiến ngay từ khi thành lập trong thời khoảng đầu (1975-1985) nhưng chưa giám bộc lộ, có lẽ vì không muốn bị khuynh hướng chống cộng bảo thủ còn chiếm số đông tấn công. Đó  là Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
         Liên minh này chủ trương dùng đấu tranh chính trị và ngoại giao, với vũ khí nhân quyền  làm mũi nhọn tấn công Việt cộng. Chủ trương này đã đưa đến việc Liên  Minh Dân Chủ Việt Nam vận động để hình thành vào nằm 1986 ở hải ngoại một Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự do, với các thành viên là các nghị sĩ dân biểu quốc hội Hoa Kỳ, Canada, quốc hội Châu âu và Úc châu để tìm hậu thuẫn quốc tế cho công cuộc chống cộng vì tự do dân chủ cho Việt Nam. Năm 1992, LMDCVN  thành lập trong nước Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ với người đứng đầu là Giáo sư Nguyễn Đình Huy (một đảng viên Tân Đại Việt)
        Theo Tuyên ngôn thành lập Phong trào này ngày 16-7-1992 thì: “Cuộc tranh đấu ngày nay giữa người Việt Nam không còn là cuộc tranh đấu để phân biệt chính với tà nữa. Không còn lý do để nhất định tiêu diệt lẫn nhau nữa. Cuộc đấu tranh hiện nay là cuộc đấu tranh ôn hòa giữa cái đúng và cái sai…Nó mang tính chất vừa tranh đấu, vừa hợp tác…”.
       Điều đáng lưu ý là , từ một văn phòng thuộc Hạ viện Quốc hội Hoa Kỳ, Dân biểu Dornan và Gs. Stephen Young đã nhân danh Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do,công bố sự hiện hữu của Phong Trào TNDTXDDC trong nước và tuyên bố ủng hộ tổ chức này.
        Sự kiện này tất nhiên đã gặp sự chống đối mạnh mẽ của khuynh hướng chống cộng bảo thủ và làm phân hóa ngay nội bộ LMDCN. Một nhóm lãnh đạo hàng đầu tách ra thành Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Kiên Định lập Trường đã tố cáo Phong trào TNDTXDDC như là công cụ của chế độ cộng sản Việt Nam và là con bài của ngoại bang “phục vụ cho quyền lợi của giới tài phiệt ngoại bang và Hà nội” (Bạch Thư của Lực Lượng Dân Quân Yểm Trợ Phục Quốc Việt Nam. Ấn bản hải ngoại 1991, trang 37).
      Mặc dầu LMDCVN do sự kiện này có sự phân hóa, song cả hai cánh ủng hộ PTTNDTXDDC cũng như chống đối đều khẳng định vẫn trung thành với lập trường quan điểm chống cộng của Cố Gs. Nguyễn Học Huy (qua đời năm 1990). Rằng “ Ngày nào đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm độc quyền ưu thế hay chính trị, ngày nào bộ máy công an cảnh sát của CSVN còn tồn tại, ngày nào CSVN chưa trả hết các quyền tự do cho nhân dân Việt Nam, ngày đó LMDCVN và cá nhân tôi vẫn xem họ là thù địch, và dĩ nhiên không thể có sự hợp tác, vì hợp tác với kẻ thù là phản bội nhân dân VN…” (Trich Di cảo của Gs Nguyễn Ngọc Huy, lãnh tụ sáng lập LMDCVN).
        Trong khi đó, các thành viên khác của lMDCVN ủng hộ PTTNDTXDDC chấp nhân mọi búa rừu chống đối, vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống cộng theo phương cách họ chọn, như muốn dùng thực tế  và thời gian để khẳng định cho lập trường, quan điểm và phương thức chống cộng của mình là đúng đắn.

   * Thời khoảng 1995-2011:
      Trong thời khoảng này, khởi đi từ sau khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt cộng, thực hiện một chiến lược quốc tế mới nói chung, với Việt Nam nói riêng,Việt quốc chống cộng ở hải ngoại cũng như trong nước đều triệt để khai thác nguy cơ “Diễn biến hòa bình” đối với Việt cộng.
         Và dường như hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến có chung quan điểm không thể và cũng không có sức mạnh quân sự đối trọng nào của Việt quốc để “Diệt cộng”, song hai khuynh hướng này vẫn bất đồng sâu xa về phương thức chống cộng không dùng bạo lực để thắng Việt Cộng thì dùng những phương cách gì đây.
        Chính sự mâu thuẫn này tiếp tục đưa đến những xung khắc gay gắt đến độ “xung đột,đánh phá lẫn nhau” bằng mọi phương cách, với tính chất,mức độ và cường độ nhiều lúc người ta có cảm tưởng còn hơn với đối phương Việt cộng, đã gây bất ổn triền miên trong các cộng đồng có đông Việt quốc tỵ nạn cộng sản, làm nhiều người chán nản bỏ cuộc vì thấy nội lực Việt quốc trong tương quan với Việt cộng đã yếu kém hơn, nay lại suy giảm vì nội bộ xâu xé nhau chỉ vì bất đồng quan điểm, phương thức chống cộng, thì làm sao thắng nổi Việt cộng đây.Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng thực tế ngày càng ít người tham gia các hoạt động chống cộng ở hải ngoại. Một điển hình thể hiện đầy đủ tính chất và hậu quả của hiện tượng tiêu cực này là, tại Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ cận, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ,  cũng vì bất đồng quan điểm và phương thức chống cộng giữa hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và chống cộng cấp tiến, đã gây xung đột, đánh phá lẫn nhau bằng mọi mọi giá, mọi cách,gây bất ổn Cộng Đồng kéo dài hơn một năm qua vẫn chưa có cơ may chấm dứt.
      Dẫu sao về mặt tích cực, những hoạt động chống cộng của Việt quốc khắp nơi tại hải ngoại trong thời khoảng này vẫn được đẩy mạnh, liên tục, đều khắp qua các cao trào chống cộng, mỗi khi có sự kiện, biến cố gì trong nước có thể làm duyên cớ tấn công Việt Cộng.
       Việt quốc đã tấn công Việt cộng bằng nhiều hình thức đa dạng được các thành phần lãnh đạo công cuộc chống cộng ở hải ngoại triển khai, phát động tiến hành trong các địa bàn căn bản là các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ nạn cộng sản nơi các quốc gia họ định cư.Mặc nhiên coi các Tổ Chức Cộng Đồng là thành trì chống cộng, là hậu phương hổ trợ cho tiền tuyến chống cộng của nhân dân trong nước.
      Qua thực tế, hình thức chống cộng đồng bộ thông thường vẫn như các thời khoảng trước,tuy có gia tăng mức độ và cường độ đấu tranh, là các cuộc hội họp, hội thảo, biểu tình, ra tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, vận động hành lang quốc hội, chính phủ các nước sở tại để tìm hậu thuẫn quốc tế yểm trợ …     Những hình thức hoạt động chống cộng này, Việt quốc muốn bầy tỏ thái độ và tố cáo trước công luận bản xứ hay công luận quốc tế những chủ trương, chính sách, hành động  sai trái về đối nội cũng như đối ngoại của Việt cộng, gây hậu quả nghiêm trọng trước mắt cũng như lâu dài đối với nhân dân, dân tộc và đất nước Việt Nam.
       Việt quốc tố cáo trước công luận quốc tế để tìm sức hậu thuẫn, và chuyển đạt đến các chính phủ dân chủ có ảnh hưởng, Liên Hiệp Quốc, các tổ chức bảo vệ nhân quyền, các Tòa án quốc tế những vi phạm nhân quyền và luật pháp quốc tế của Việt cộng, để qua đó yêu cầu can thiệp, có biện pháp chế tài,trừng phạt, thúc ép Việt cộng phải từ bỏ hay thay đổi chính sách, đường lối cai trị theo hướng dân chủ đa nguyên, tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền…
      Về đối nội thường là nhắm vào các hành động vi phạm các quyền tự do dân chủ, nhân quyền, nhân sinh của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, đối với các cá nhân hay tập thể công dân, các tín đồ, các nhà lãnh đạo các Giáo hội.
     Về đối ngoại nhắm vào các chủ trương, chính sách và việc làm của đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cấu kết với ngoại bang phương hại đến quyền lợi trước mắt cũng như lâu dài với đất nước, dân tộc và Tổ quốc Việt Nam…
    Đáng lưu ý, trong giai đoạn này, bên cạnh những hình thức chống cộng truyền thống 36 năm qua ở hải ngoại, với những hoạt động “chống cộng từ xa” nhằm thành đạt hiệu quả gián tiếp qua áp lực quốc tế đối với Việt cộng, một số chính đảng đã thức thời điều chỉnh sách lược chống cộng với các hoạt động “chống cộng trực diện” với Việt cộng ngay trong nước. Các chính đảng này đã phát triển tổ chức,xây dựng cơ sở, kết nạp đảng viên, tung ra các hoạt động chống cộng hợp pháp, bán hợp pháp hay bất hợp pháp ngay trong lòng chế độ Việt cộng.Dường như các chính đảng cấp tiến này, qua các hoạt động thực tiễn đã và đang muốn tham gia vào giai đoạn mà chúng tôi gọi là  “thử nghiệm và thực tập dân chủ”, để tạo thế và lực bước vào sân chơi “dân chủ đa nguyên” sớm muộn sẽ phải có ở Việt Nam trong tương lai(Như chúng tôi đã nhận định, trình bầy chi tiết trong tập tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” về ba bước đến nền dân chủ đa nguyên: Thử nghiệm dân chủ- Thực tập dân chủ-Hình thành chế độ dân chủ đa nguyên. Từ trang 335-342, tái bản tại Hoa Kỳ 2005).
         Vì tại sân chơi này, đảng nào mạnh về tổ chức, đưa ra được quốc kế dân sinh thuyết phục được đa số nhân dân, sẽ thắng bằng lá phiếu của họ. Nhiều đảng viên của các chính đảng này do các hoạt động đấu tranh trong nước, đã bị Việt cộng đàn áp, bắt bớ, kết án, cầm tù, song vẫn bị khuynh hướng chống cộng bảo thủ, kết tội là “Đón gió trở cờ”, là theo con đường “Hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng,  là “Chống cộng cuội”, “chống cộng nằm vùng”, là “Cánh tay nối dài của Việt Cộng”,….. dù không đưa ra được những bằng cớ xác thực, khả tín có tính thuyết phục nào.
          Điển hình Đảng Việt Tân (Lãnh đạo Mặt Trận QGTNGPVN và các tổ chức ngoại vi như Liên Minh Việt Nam Thư Do,Hội Chuyên Gia, Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu…) sau khi điều chỉnh lại sách lược chống cộng theo khuynh hướng cấp tiến, một thành phần thiểu số lãnh đạo hàng đầu có khuynh hướng bảo thủ đã tách ra, số đông còn lại củng cố lại tổ chức, lãnh đạo các hoạt động chống cộng công khai tại hải ngoại và trong nước. Mặc dầu bị khuynh hướng chống cộng bảo thủ chống đối quyết liệt, , chụp mũ, nhục mạ thậm từ, song Đảng này vẫn tiếp tục chống cộng theo sách lược chống cộng mới có tính cấp tiến của mình.
         Đây là sự xung khắc tất nhiên do sự khác biệt về quan điểm và phương sách chống cộng giữa khuynh hướng chống cộng bảo thủ và khuynh hướng chống cộng cấp tiến. Sự xung khắc này không chỉ diễn ra bên ngoài mà ngay bên trong các chính đảng, đưa đến sự phân hóa nội bộ một số chính đảng nói riêng, toàn khối Việt quốc chống cộng nói chung. Dù sự phân hóa này có tai hại, song phải chấp nhận là một thực tế diễn ra như một quy luật phát triển xã hội, chính thực tế sẽ giải quyết mâu thuẫn này:bảo thủ- cấp tiến chống cộng:ai đúng ai sai, cách chống cộng nào phù hợp với thực tiễn và có hiệu quả hơn.
2.- Hiệu quả các hoạt động chống cộng của Việt quốc 36 năm qua        
        Nhìn chung, tất cả các hoạt động chống cộng ở hải ngoại 36 năm qua, dù dưới bất cứ hình thức, phương cách nào hầu hết đều có hiệu quả (effect, effective, effectural) ít nhiều, song hiệu quả không cao, không tạo được thành quả sau cùng, chỉ tạo được thành quả nhất thời,vì bộ phận lãnh đạo chống cộng đa dầu, không hình thành được một tổ chức chống cộng thống nhất, đoàn kết, vững mạnh và uy tín, có tính hệ thống cơ cấu, với nhân sự điều hành và lãnh đạo các hoạt dộng chống cộng theo một sách lược chung. Nghĩa là một cách chống cộng theo kiểu đánh võ tự do, dễ gây hiểu lầm nội bộ Việt quốc, nhất là dễ bị Việt cộng lũng đoạn, khai thác mâu thuẫn nội bộ chống phá lẫn nhau …
        Đồng thời cũng vì phân tán tổ chức, thiếu một bộ tham mưu chung lãnh đạo toàn cuộc chống cộng ở hải ngoại theo một sách lược chống cộng chung, nên không kiểm soát được nội tình Việt quốc, không nắm được nội tình đối phương, để có được đối sách hiệu quả theo binh pháp “Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”.
       Vì không biết thực lực của ta, ý đồ của địch, nên mới có những đòn chống cộng phóng ra không trúng đích, bị đối phương dẫn giắt đến những mục tiêu chống cộng giả (như võ sĩ giác đấu dùng tấm vải đỏ cho con bò mộng húc vào để né tránh), nên mới xây ra nghịch cảnh “Quân mình đánh quân ta”. Điển hình là mục tiêu chống chủ trương“Hòa giải và hòa hợp dân tộc của Việt cộng”. Chúng tôi đã có nhiều bài viết phân tích trình bầy đây chỉ là động tác giả Việt cộng tung ra để phân hóa nội bộ Việt quốc. Vì thực tế từ quá khứ đến hiện tại, Việt cộng chỉ dùng “hòa giải và hòa hợp dân tộc” như một chiêu bài tuyên truyền lừa mị để thành đạt lợi ích giai đoạn. Như trong giai đoạn chiến tranh Quốc – Cộng (1954-1975), Việt cộng đã đưa được chiêu bài “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” vào văn bản Hiệp Định Paris 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, với cái gọi là “Chính phủ hòa giải và hòa hợp dân tộc” phải được thành lập. Thế nhưng thực tế, Việt cộng đã chỉ dùng chiêu bài này để lừa mị nhân dân trong nước và đánh lừa công luận quốc, nhất là nhân dân Hoa Kỳ, để đạt lợi ích giai đoạn là loại được Mỹ ra khỏi vòng chiến, để sau đó cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris, trước sự phủi tay không thương tiếc của Hoa Kỳ và sự quay lưng của mọi bảo đảm quốc tế cho việc thực thi hiệp định này. Trong giai đoạn hậu chiến tranh Quốc- Cộng hiện nay cũng thế, Việt cộng lại tung ra chiêu bài “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” không chính thức, mà chỉ đưa ra một “Nghị Quyết 36” của Cộng Đảng Việt Nam có tính chiêu hồi Việt quốc đem tài năng, chất xám và tư bản về hợp tác với nhà cầm quyền và chế độ Việt cộng để cùng làm cái gọi là xây dựng và phát triển đất nước đến giầu mạnh.Nội dung Nghị Quyết 36 này đã lộ rõ ý đồ Việt cộng “Không muốn hòa giải” mà chỉ muốn Việt quốc “hòa hợp vô điều kiện” với Việt cộng.Thế nhưng vẫn có một số cá nhân nhẹ dạ trong hàng ngũ Việt quốc, nhất là một số người từng lãnh đạo hàng đầu chính quyền chế độ chính thống quốc gia Việt Nam Cộng Hòa trước đây, công khai trở về vô điều kiện và còn tuyên bố những điều xúc phạm đến lý tưởng, danh dự tập thể Việt quốc. Điển hình là cựu Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ. Một hành động không những không góp được gì cho sự “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này và cũng là khát vọng chung của người Việt Nam chân chính.
       Thế nhưng vẫn có những cá nhân Việt quốc do không biết rõ hay dù có biết rõ Việt cộng chỉ dùng “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” như một chiêu bài lừa mị, chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ chịu hòa giải với Việt quốc, song vẫn dùng cái nón “Hòa giải và hòa hợp” chụp lên đầu các chiến hữu Việt quốc của mình, mỗi khi có bất đồng quan điểm, phương thức chống cộng. Thậm chí có kẻ còn dùng cái nón này để giải quyết những mâu thuẫn, tư thù cá nhân, nhằm khủng bố  nhau để thủ thắng.Việc làm tiêu cực này đã tác hại không nhỏ đến nội lực khối Việt quốc chống cộng ở hải ngoại cũng như trong nước.(Xin đọc thêm những bài nhận định, phân tích, trình bầy về vấn đề này tại: thieny-lienhuong.blogspot.com)
        Chính vì vậy mà đã có những hoạt động chống cộng không có hiệu quả, đôi khi còn phản tác dụng, đưa đến hậu quả bất lợi cho công cuộc chống cộng vì dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam.
     Tuy nhiên về mặt tích cực, các hoạt động chống cộng của Việt quốc 36 năm qua đã đem lại những hiệu quả sau đây:
a.- Hiệu quả đối với nội bộ hàng ngũ chống cộng:
     Qua các hoạt động chống cộng dưới mọi hình thức(Hội thảo, biểu tình, truyền thông…) đã củng cố, nuôi dưỡng tinh thần và ý chí chống cộng kiên định của khối Việt quốc tỵ nạn cộng sản 36 năm qua.
    Qua đó, thành phần lãnh đạo (các cộng đồng,các chính đảng quốc gia, đoàn thể chính trị…) cũng như quần chúng tham gia các hình thức chống cộng đã tự khẳng định lập trường, thể hiện, nuôi dưỡng, nâng cao tinh thần và ý chí chống cộng kiên định với quyết tâm chống cộng đến cùng cho đến ngày toàn thắng (Thành quả cuối cùng:diệt cộng, dân chủ hóa đất nước).
    Đối với những người từng là nạn nhân bị đối xử hay chứng kiến, hay biết được cách đối xử tàn ác, giã man của Việt cộng qua tài liêu, sách vở, truyền thông, thì động lực chống cộng của họ nặng tính căm thù Việt cộng. Vì vậy khi  tham gia các hoạt động chống cộng cũng là dịp giải tỏa phần nào nỗi căm thù đã hằn sâu trong lòng họ.
       Thế nhưng chính lòng thù hận thường dẫn đến thái  độ chống cộng cực đoan nơi một số người trong hàng ngũ chống cộng, đôi khi dẫn đến các hành động chống cộng phản tác dụng, có hại cho công cuộc chống cộng chung vì tự do dân chủ cho Đất nước.
       Phản tác dụng, vì trên thực tế, một số người chống cộng ở hải ngọai, đã không nắm vững mục tiêu và lý tưởng chống cộng, nên đã có các hành động “Chống cộng chỉ vì lòng căm thù, chống cộng cho vơi niềm uất hận” chứ không phải “Chống cộng để thắng cộng và thắng cộng để thiết lập một chế độ tự do dân chủ khác chế độ Độc tài tòan trị cộng sản”.
         Hệ quả là đôi khi họ đã trút căm thù  cộng sản lên bất cứ ai có lời nói, hành động thể hiện quan điểm chống cộng khác mình, bằng  những ngôn từ nặng nề, thiếu văn hóa, xúc phạm nhân phẩm, đời tư cá nhân và quyền  tự do của một công dân  trong  một đất nước dân chủ vào bậc nhất như Hoa Kỳ và những quốc gia dân chủ khác trên thế giới mà họ đang sinh sống.
         Nhiều người đánh giá: Đây là một hành động khủng bố tinh thần những người bất đồng chính kiến của  thiểu số những người chống cộng cực đoan (theo nghĩa bảo thủ, độc đoán, coi quan điểm và phương thức chống cộng của mình là duy nhất đúng, tìm cách loại trừ bằng mọi giá, dù bất nhân vô đạo đối với những người có quan điểm và phương cách chống cộng khác mình,dù họ biết rõ những người ấy không phải là Việt cộng, nhưng vẫn truy chụp, đội các mũ “Việt gian, tay sai cộng sản” hay “Hòa giải hòa hợp với cộng sản”….) .
       Tệ trạng này đã gây nhiều tác hại bất lợi cho công cuôc chống cộng chung mà chúng tôi đã có nhiều bài viết cảnh báo. Một trong những tác hại thấy được là làm gia tăng  số lượng  người chống cộng chán nản, bỏ cuộc, không muốn chống cộng nữa. Thậm chí có kẻ  quay lại ca ngợi, nể phục cộng sản. Là vì sự thể này đã làm mất niềm tin vào sức mạnh đòan kết, khả năng những người lãnh đạo tranh đấu chống cộng  nơi các Cộng Đồng chống cộng, các chính đảng quốc gia… để thành đạt chiến thắng cuối cùng, khi mà  ngay tại hậu phương chống cộng ở hải ngọai tính tự do dân chủ đã không được tôn trọng, người chống cộng “đánh” người chống cộng với cường độ căm thù nhau như căm thù cộng sản, có khi hơn và luôn sẵn sàng chụp “nón cối, dép dâu”(mà chính Việt cộng đã vất bỏ từ lâu) lên đầu  những người anh em chống cộng khác mình. ( một giả định thực tế: nếu Việt quốc thắng Việt cộng trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng vừa qua hay toàn thắng trong giai đoạn chống cộng cuối cùng này, mà chính quyền rơi vào tay những người chống cộng cực đoan như thế này, số phận của những Việt cộng sẽ ra sao, có đối xử tàn bạo như Việt cộng đối với Việt quốc hay tệ hại hơn? Phải chăng Việt cộng ngoan cố bám lấy độc quyền thống trị, một trong những nguyên nhân cũng là vì “sợ bị trả thù” khi chính quyền lọt vào tay những thành phần Việt quốc chống cộng cực đoan này?)
         Nếu hiện tượng không lành mạnh này tiếp tục tồn tại trong các cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngọai, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ và thời gian giành chiến thắng sau cùng của công cuộc chống cộng, dù ai cũng tin rằng chiến thắng ấy đã là một tất yếu, chỉ sớm hay muộn mà thôi.
      b.- Hiệu quả đối với đối phương Việt cộng.
      Các hoạt động chống cộng dưới mọi hình thức của Việt quốc 36 năm qua đều có hiệu quả bóc trần mọi điều Việt cộng nuốn che dấu có hại cho họ, để phải lộ nguyên hình trước nhân dân trong nước và cộng đồng thế giới, một chế độ độc tài toàn trị, phản dân chủ,giã man, kém văn minh, luôn chà đạp và tước đoạt các quyền dân chủ, dân sinh, vi phạm nhân quyền, vi phạm luật pháp quốc tế, cấu kết với ngoại bang buôn dân bán nước, phản lại quyền lợi Đất nước, Dân tộc và Tổ Quốc Việt Nam…
        Chính những hoạt động chống cộng có hiệu quả này đã gây khó khăn không ít cho Việt Cộng trên trường quốc tế, ảnh hưởng đến uy tín, các quyền lợi song phương cũng như đa phương của Việt cộng, tập đoàn lãnh đạo hàng đầu Việt cộng gặp khó khăn trở ngại khi phải cúi mặt trốn chậy trong những chuyến công du nước ngoài, trước các cuộc biều tình săn đuổi của Việt quốc chống cộng tỵ nạn cộng sản khắp nơi…..Tuy nhiên tất cả các hiệu quả này nếu có làm suy yếu chế độ Việt cộng, thì vẫn chưa lũy đủ sức nặng thừa đủ làm sụp đổ chế độ Việt cộng để có được thành quả sau cùng. Vì sao? – (Chúng tôi xin lý giải ở phần sau).
       c)- Hiệu quả trên trường quốc tế.
     Các hoạt động chống cộng dưới mọi hình thức của Việt quốc 36 năm qua đều có hiệu quả thúc đẩy công luận nhân dân,các chính phủ quốc gia dân chủ, Liên Hiệp Quốc, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, các cơ quan tài phán quốc tế quan tâm hổ trợ, gia tăng áp lực và có hành động can thiệp lên nhà cầm quyền Việt cộng theo chiều hướng có lợi cho mục tiêu tối hậu của công cuộc chống cộng của Việt quốc:tiêu diệt chế độ độc tài toàn trị cộng sản, thiết lập chế độ dân chủ  đa nguyên cho Quê Mẹ Việt Nam.
       Tất nhiên hiệu quả ít nhiều còn tùy thuộc vào ý chí chủ quan của chính phủ các quốc gia, các tổ chức quốc tế có ảnh hưởng với Việt cộng, để có cách hành xử, biện pháp hiệu quả  hay không. Cách hành xử hay các biện pháp chế tài thường được các chính phủ rút ra từ căn bản tính toán lợi ích thiệt hơn trên các mặt trong mối quan hệ với Việt cộng. Thành ra, Việt quốc cũng phải lưu ý đến thực chất này để chủ động tính toán trong các hoạt động chống cộng muốn tìm hiệu quả từ áp lực quốc tế.

III/- THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG TƯƠNG LAI
        Vấn đề đặt ra là: công cuộc chống cộng 36 năm qua của Việt Quốc đã đem lại thành quả gì và triển vọng tương lai ra sao?
1.- Thành quả (Fruits, results)
    a)- Ý nghĩa từ ngữ:Thành quả khác hiệu quả và thành quả của mỗi hoạt động chống cộng khác thành quả sau cùng của công cuộc chống cộng.
         Chẳng hạn, một cuộc biểu tình chống cộng trước lãnh sự quán Việt cộng tố cáo, lên án nhà cầm quyền Việt cộng bắt bớ, đàn áp, giam cầm những người bất đồng chính kiến đấu tranh ôn hòa cho các quyền dân chủ, dân sinh trong nước. Hoạt động chống cộng này có hiệu quả đối với nội bộ Việt quốc, với đối phương Việt cộng và với công luận quốc tế như chúng tôi đã phân tích trình bầy ở trên, nhưng có thể không đạt thành quả trực tiếp là buộc được nhà cầm quyền Việt cộng phải thả các nhà bất đồng chính kiến bị bắt cầm tù hay chấm dứt đàn áp.
        Tuy nhiên, thành quả này có thể đạt được gián tiếp nếu cuộc biểu tình có kháng thư, thỉnh nguyện thư gửi đến các chính phủ có ảnh hưởng, như Hoa Kỳ chẳng hạn, tạo áp lực buộc được nhà cầm quyền Việt cộng phải làm theo những đòi hỏi của cuộc biểu tình của Việt quốc.(Nếu các chính phủ có ảnh hưởng,như Hoa Kỳ quan tâm, thực sự can thiệp và áp lực bằng một biện pháp hữu hiệu). Thế nhưng đây vẫn chỉ là một thành quả nhất định (hay là thắng lợi từng bước) của một hoạt động đấu tranh chống cộng, tich lũy, phát triển theo thời gian để tạo ra thành quả cuối cùng (Final fruits,final results) hay là thắng lợi sau cùng của công cuộc chống cộng (tiêu diệt nhà cầm quyền và chế độ độc tài Việt cộng, thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên).
     b)- Như vậy 36 năm chống cộng Việt quốc chưa tạo được thành quả cuối cùng hay chiến thắng cuối cùng của công cuộc chống cộng, chỉ tạo thành quả của từng hoạt động chống cộng và đạt một phần thành quả toàn cuộc hay một phần chiến thắng sau cùng một cách gián tiếp.
      Theo ý nghĩa từ ngữ trên, nếu Việt quốc coi thành quả toàn cuộc hay là thành quả cuối cùng của công cuộc chống là phải thành đạt mục tiêu tối hậu: tiêu diệt nhà cầm quyền và chế độ độc tài Việt cộng, thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên, thì các hoạt động chống cộng 36 năm qua của Việt quốc vẫn chưa đạt thành quả tối hậu này, chỉ có những hiệu quả trong các hoạt động chống cộng nhất định.
    Tuy nhiên, chính những hoạt động chống cộng có hiệu quả đã tác động gián tiếp qua các lực đẩy, lực xoay quốc tế theo chiều hướng chiến lược toàn cầu ,tạo áp lực hiệu quả đối với Việt cộng, để đã có được một phần thành quả tối hậu hay một phần chiến thắng sau cùng của công cuộc chống cộng.
      Một phần thành quả toàn cuộc chống cộng đó là:nhà cầm quyền và chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam trên thực tế đã bị “Biến chất cộng sản” thành “chất tư sản”(đỏ) dù chưa “chuyển thể độc tài toàn trị” qua “Dân chủ đa nguyên”. Một phần thành quả này đã đạt được một cách gián tiếp qua sách lược chống cộng mới của Hoa Kỳ nói riêng và các cường quốc cực nói chung (Chiến lược toàn cầu hóa).
      Bởi vì sách lược mới của Hoa kỳ là “Diệt cộng” trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường”(sau khi không thành công hay không muốn thành công với chiến lược “Diệt cộng” trong “Môi Trường mật đắng” là sức mạnh quân sự qua chiến tranh, trong Chiến Lược Quốc Tế cũ “Chiến tranh ý thức hệ” ).
      Vì rằng “Mật ngọt chết ruồi” (theo ý nghĩa tục ngữ dân gian), trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường”các cán lớn, cán nhỏ đảng viên cộng sản và cả cái “Chính quyền chuyên chính vô sản” Việt cộng đã như những con ruồi sa vào hũ mật, cũng “đã biến chất” và “sẽ biến thể hoàn toàn” ở cuối quá trình tiêu vong.Việt cộng đã và đang bị “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường”hóa thân tịnh tiến theo đúng quy luật duy vật biện chứng“Lượng đổi, chất đổi” (lượng độc tài tiêu vong, lượng dân chủ lớn dần triệt tiêu độc tài, hình thành dân chủ đa nguyên, như nước đun sôi dến 100 độ C thì biến thành thể hơi).
        Trên thực tế,ai cũng thấy sách lược chống cộng mới của Hoa Kỳ dường như không còn chủ trương “ lật đổ để thay thế Việt cộng mà muốn cải tạo Việt cộng thành công cụ chiến lược mới của mình”.
          Hoa Kỳ không chủ trương “Lật đổ để thay thế” có lẽ vì thực tế đã không tìm được một lực lượng chống cộng đối trọng nào khả dĩ có đủ sức mạnh lật đổ và khả năng thay thế Việt cộng, tốt hơn là cải tạo tại chỗ cái chính quyền Việt cộng, biến Việt cộng thành công cụ chiến lược mới trong vùng của mình. Vì vậy mà ngay khi cuộc chiến tranh Quốc- Cộng chấm dứt ít lâu, tài liệu giải mật sau này cho biết là Việt cộng đã để mất cơ hội nắm lấy bàn tay cứu vớt của Hoa Kỳ đưa ra (do đầu óc thiển cận, mang ảo tưởng là kẻ chiến thắng nên làm cao giá đòi Mỹ bồi thường chiến tranh như điều kiện tiên quyết…). Phải đợi 20 năm sau (1975-1995) khi Việt cộng thất bại hoàn toàn cái gọi là công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam,dù cố gắng “Đổi mới” vẫn không cứu vãn được tình hình, một lần nữa Hoa Kỳ đã đưa bàn tay ra và Việt cộng đã không còn dám bỏ lỡ cơ hội vội nắm lấy.
         Đến nay 16 năm trôi qua (1995-2011) Hoa Kỳ đã tương kế tựu kế đổi “Đối thủ Việt cộng trong môi trường mật đắng chiến tranh trong quá khứ” thành “Đối tác Việt cộng trong môi trường mật ngọt kinh tế thị trường trong hiện tại” để tịnh tiến cải tạo, chuyển đổi “Việt cộng độc tài toàn trị” qua “Việt Nam Dân chủ đa nguyên” làm công cụ chiến lược mới của Mỹ trong vùng, theo đúng yêu cầu của thế chiến lược toàn cầu mới của Mỹ và các cực cường nói chung.
        Mỹ đã cải tạo con người về nhân sự lãnh đạo bộ máy Đảng và Nhà nước Việt cộng bằng sự thay thế dần, với sự đẩy đưa sao đó để loại trừ  thành phần lãnh đạo già nua, bảo thủ và cực đoan, duy ý chí, ra khỏi guồng máy quyền lực bằng qui chế 65 tuổi phải về hưu chẳng hạn.Những cán bộ đảng viên tại chức tại quyền thì được cho đi tu nghiệp tại các nước dân chủ tư bản, nhiều nhất vẫn là Hoa Kỳ. Con cái cán bộ đảng viên và cả dân thường có khả năng tài chánh đều được tự do du học tại các nước dân chủ tư bản, đông nhất vẫn là Hoa Kỳ. Thực tế ai cũng có thể suy đoán được kết quả ở cuối quá trình cải tạo con người này là gì.
        Việt cộng chắc cũng biết rõ ý đồ này của Mỹ, nên cho dù “Đảng ta” miệng có la hoảng, cảnh giác đảng viên về cái gọi là “Âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù nghịch”, thì thực tế chân vẫn phải chậy theo và bị “diễn biến ấy” lôi đi xềnh xệch không sao cưỡng lại được. Diễn biến đó là: cán bộ đảng viên cộng sản đã bị tư sản hóa từng bước (trở thành tư bản Đỏ), nhà nước được tư bản hóa từng phần (tiến trình giải tư công, nông, thương nghiệp quốc doanh…), chế độ thì được dân chủ hóa tịnh tiến (đã phải trả lại cho nhân dân nhiều quyền dân chủ, dân sinh so với hơn 15 năm trước đây,dù còn ít nhiều hạn chế…). Dẫu sao, Việt cộng cũng biết rằng đi theo chiều hướng này là tốt nhất,vẫn giữ được phần nào quyền lợi cho một tập đoàn thống trị sau khi “chế độ độc tài toàn trị” phải “Biến thể qua dân chủ đa nguyên”. Một chiều hướng không thể đảo ngược và Việt cộng cũng không có sự lựa chọn con đường nào khác hơn.
         Trong thực tế hiện nay tại Việt Nam, như chúng tôi đã trình bầy nhiều lần, cái gọi là  Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã “Biến chất hoàn toàn” chỉ còn “Đỏ vỏ xanh lòng”. Nghĩa là những bảng hiệu “Đảng và chế độ” chỉ là giả mạo vẫn được trưng lên theo kiểu gian thương “Treo đầu dê bán thịt chó” để thêm thời gian độc quyền thủ lợi của một tập đoàn cố bám giữ thống tri độc quyền mà thôi.
         Vì vậy,trong 36 năm qua,theo nhận định của chúng tôi, tất cả những hoạt động chống cộng nào đi đúng chiều hướng sách lược “diệt cộng” trên đây của Hoa Kỳ, phù hợp với chiều hướng chiến lược toàn cầu mới, đều góp phần gián tiếp tạo ra một phần thành quả nêu trên. Những hoạt động chống cộng nào đi ngược với sách lược này đều là phản tác dụng, làm chậm tốc độ “Biến chất” và “Chuyển thể” Việt cộng theo chiếu hướng chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực (thị trường tự do hóa toàn cầu về kinh tế, dân chủ hóa toàn cầu về chính trị).
        Tỷ dụ điển hình: sách lược chống Việt cộng mới của Hoa Kỳ đi từ bãi bõ cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt cộng, coi Việt cộng là đối tác không còn là đối phương,chủ trương khuyến khích, mở rộng, tăng cường đầu tư vào Việt Nam, để gia tăng “nồng độ ngọt”của môi trường“Mật ngọt kinh tế thị trường” hầu tăng tốc “diệt con ruồi Việt cộng” trong môi trường này.
        Trong khi đó Việt quốc chủ trương và đẩy mạnh các hoạt động chống đầu tư vào Việt Nam, là duy ý chí trái với sự phát triển thực tiễn, nên không có hiệu quả mà còn phản tác dụng.Vì thế trong một số bài viết trước đây, để có hình tượng của hoạt động trái chiều này, chúng tôi đã dùng cụm từ “Chống cộng theo kiểu con lạc đà chui đầu xuống bãi cát” (theo nghĩa bất kể mọi biến chuyển của tình hình thực tế, không điều chỉnh,không cải tiến các hoạt động chống cộng cho phù hợp để có hiệu quả) hay “Chống cộng theo kiểu đánh phèng la”, (tương tự như vai trò của đoàn người đánh phèng la,khua chiêng, gõ mõ khuấy động trong một cuộc đi săn để con mồi hoảng sợ đi vào tầm bắn của người thợ săn để bị giết).
         Vì như trên đã trình bầy, mọi hoạt động dưới mọi hình thức chống cộng 36 năm qua của Việt quốc (Hội thảo, mít-tinh, biểu tình lên án tố cáo Việt cộng…) thực tế đều chỉ có hiệu quả đẩy đưa Việt cộng vào tầm ngắm của áp lực quốc tế để bị “giết chết từ từ” (đẩy đưa lùi dần về phía dân chủ…)
       Chính vì vậy, một phần thành quả nêu trên (Việt cộng biến chất), Việt quốc đã chỉ đạt được gián tiếp qua sách lược chống cộng mới của Hoa Kỳ và quốc tế “Diệt cộng sản hậu chiến tranh lạnh” (toàn cầu) hay “Diệt Việt cộng hậu Chiến tranh Quốc- Cộng” (tại Việt Nam).
c) Vì sao Việt quốc chỉ đạt được hiệu quả, vẫn chưa đạt thành quả sau cùng?
      Bởi vì 36 năm qua Việt quốc đã không làm thay đôi được cán cân lực lượng để mạnh hơn Việt cộng, dù Việt quốc mỗi ngày một mạnh hơn, Việt cộng mỗi ngày một suy tàn, nhưng vẫn chưa sụp đổ, vì Việt cộng biết cách luồn lách thoát hiểm bằng đối sách “Mềm nắn, rắn buông” cố gắng giữ cho cường độ phản kháng của quần chúng nhân dân ở dưới biên độ “Tức nước vỡ bờ” và nhượng bộ có mức độ vừa đủ trước áp lực quốc quốc tế.
     Vì rằng, theo binh pháp cổ kim, trong bất cứ cuộc phân tranh hay chiến tranh nào giữa hai phe, bên nào mạnh sẽ thắng. Việt quốc khởi động giai đoạn chống cộng hậu chiến tranh Quốc-Cộng ở thế yếu so với đối phương Việt cộng. Muốn thắng Việt cộng, Việt quốc phải làm sao ngày một mạnh hơn Việt cộng thì mới thắng đượcViệt cộng, mới giành được thành quả sau cùng.
     Thế nhưng thực tế Việt quốc sau 36 năm chống cộng, dù có phát triển theo chiều hướng ngày một mạnh hơn, song đã không đủ thế lực mạnh hơn Việt cộng để thắng cộng được, dù Việt cộng ngày một suy yếu mà không sụp đổ. Vì sao?- Là vì:
    -Về mặt tổ chức Việt quốc đã không hình thành được một  tổ chức chống cộng thống nhất, đối trọng với Cộng đảng Việt Nam, để lãnh đạo toàn diện công cuộc chống cộng.
   - Về sách lược chống cộng, Việt quốc đã không đưa ra được một sách lược chống cộng toàn diện chung, khả thi,hiệu quả và có sức thuyết phục quần chúng chống cộng hải ngoại, nhất là nhân dân trong nước: rằng sách lược ấy nhất định sẽ tiêu diệt được chế độ độc tài toàn trị cộng sản, và sau đó nhất định Việt quốc sẽ xây dựng thành công chế độ dân chủ đa nguyên và thực hiện một quốc kế dân sinh đem lại cho nhân dân một đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một xã hội công bình hơn những gì thực tế Việt cộng đã làm từ khi nắm quyền trên một nửa nước (1954-1975) và trên cả nước (1975-1911).
   - Về lực lượng chống cộng,không có các lực lượng võ trang như Việt cộng(quân đội, công an…), chỉ có quần chúng ở hải ngoại và nhân dân trong nước là lực lượng chống cộng chủ yếu của Việt quốc. Nhưng quần chúng nhân dân vốn ô hợp, muốn huy động được sức mạnh này cần được tổ chức và lãnh đạo có hệ thống và quy củ, được huấn luyện, truyên truyền học tập để mọi người tin tưởng, tham gia đóng góp công của vào việc thực hiện sách lược chống cộng toàn diện chung, khả thi và hữu hiệu.
      Thế nhưng thực tế, 36 năm qua cả  ba yêu cầu căn bản tổng quát trên Việt quốc đã không làm được để có sức mạnh vượt trội, làm thay đổi cán cân lực lượng khả dĩ tiêu diệt được Việt cộng, chưa nói gì đến việc Việt quốc vẫn chưa đưa ra được một quốc kế dân sinh ưu việt hơn Việt cộng, khả thi, có tính thuyết phục được quần chúng hải ngoại và nhân dân trong nước. Thực tế cho đến nay vẫn là:
       - Về đối nội:
         Đối với Việt cộng, vẫn chiếm ưu thế về tổ chức, với một đảng cộng sản duy nhất có tính tổ chức và kỷ luật cao, độc chiếm lãnh đạo chính quyền trong một chế độ độc tài toàn trị, có lực lượng võ trang quân đội, cảnh sát công an bảo vệ chính quyền độc tài (chuyên chính vô sản) cai trị nhân dân.
         Sau một thời gian cai trị lâu dài Việt cộng đã thiết lập và củng cố được một hệ thống đảng và chính quyền cai trị bằng chính sách hai mặt: tuyên truyền lừa mị để thuần phục (Bàn tay nhung) và kềm kẹp, sắt máu, theo dõi, kiểm soát từng người dân, trấn áp làm tê liệt sức phản kháng của nhân dân…(Bàn tay sắt), dù mức độ thuần hóa không đến nỗi như nhân dân Bắc Triều tiên dưới chế độ độc tài toàn trì cộng sản Bắc Hàn, sau hơn 60 năm thống trị độc quyền sắt máu của đảng Lao ĐộngTriều Tiên,đã biến nhân dân Triều tiên thành những “người máy”, khóc cười theo sự bấm nút của “Đảng và nhà nước”, hay những “Con Vật người” suy nghĩ, hành động, khóc cười theo lệnh của “Lãnh tụ vĩ đại tối cao” như con chó của thí nghiệp Pavlov : làm theo đúng ý chủ thì được cho ăn một miếng thịt, làm sai thì bị bỏ đói, trừng phạt roi vọt( Vì thế mới có cảnh nghịch lý làm thế giới kinh ngạc, nhân dân Triều Tiên khóc Kim Chính Nhật như cha chết, dù ông ta là một nhà độc tài tàn bạo cha truyền con nối,đứng đầu một tập đoàn thống trị  độc tài đã áp bức, bóc lột, tước đoạt các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền của họ  hơn 60 năm qua , mà nay còn phải khóc thương, phải tung hô và tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Kim Chính Vân con trai út Kim Chính Nhật, tuổi đời mới bước qua tuổi trưởng thành, là lãnh tụ vĩ đại, tối cao kế tục sự nghiệp cầm đầu một tập đoàn thống trị sắt máu tiếp tục độc quyền áp bức bóc lột họ! )
   Trong khi đó, Việt quốc ở thế yếu về tổ chức, về nhân sự lãnh đạo, về lực lượng chống cộng và sách lược chống cộng.
    Về tổ chức, Việt quốc không có được một tổ chức chống cộng thống nhất ở hải ngoại cũng như trong nước, được hệ thống hóa theo cấp độ từ thượng tầng cấu trúc đến hạ tầng cơ sở để có thế đấu tranh “cài răng lược  với Việt cộng”.
   Về nhân sự lãnh đạo, Việt quốc không có bộ phận tham mưu lãnh đạo tối cao khả dĩ đối trọng được với vai trò lãnh đạo duy nhất của Cộng đảng Việt Nam.Mặc dầu Việt quốc có số lượng đông đảo người tài giỏi về trí tuệ và khả năng lãnh đạo hơn bộ phận lãnh đạo Việt cộng (Bộ chính trị va Ban Bí thư Cộng đảng Việt Nam), song vẫn không qui tụ được. Thành ra có thể nói nôm na Việt quốc chỉ có “khôn lỏi” cá nhân, cái khôn của 1000 chiếc “Đũa cả” không bó lại được với nhau, so với cái khôn của 100 chiếc đũa con Việt cộng bó lại được với nhau nên vẫn cứng hơn. Nói cách khác Việt quốc “khôn cá nhân” mà “Dại tập thể”, còn Việt cộng “ngu cá nhân” mà “khôn tập thể”
    Về sách lược chống cộng, Việt quốc thiếu một sách lược chống cộng chung cho hải ngoại cũng như trong nước, chống cộng theo kiểu “Đánh võ tự do”, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân hay tập thể lớn nhỏ có cách chống cộng riêng, nên đôi khi vì lý do này hay lý do khác vừa chống cộng, vừa chống phá lẫn nhau tự làm suy yếu nội bộ và chống cộng không hiệu quả.
    Về lực lượng chống cộng, Việt quốc không có lực lượng võ trang, chỉ dựa vào sức mạnh của quần chúng là khối người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại và nhân dân trong nước. Quần chúng thì ô hợp, muốn vận dụng được sức mạnh quần chúng cần phải đoàn ngũ hóa và lãnh đạo đấu tranh theo một sách lược chống cộng chung. Tại hải ngoại cũng như trong nước 36 năm qua, Việt quốc đã chưa làm được việc này.
       Tại hải ngoại, trong bầu không khí tự do, quần chúng tham gia các hoạt động chống cộng có tính tự phát, nặng về cảm tính (căm thù Việt cộng mà tham gia chống cộng, không quan tâm đến hiệu quả ) nên không bền chí đấu tranh, không đều vì thiếu lãnh đạo,thiếu cơ quan tuyên truyền có sách lược để lôi kéo quần chúng tham gia, để quần chúng thấy được, tin tưởng vào sự tất thắng “chính nghĩa quốc gia”, để kiên trì đấu tranh nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu của công cuộc chống cộng (Diệt cộng, dân chủ hóa đất nước).
         Vì hoàn cảnh cuộc sống, chính nhân sự trong hàng ngũ lãnh đạo các hoạt động chống cộng ở hải ngoại thuộc các chính đảng hay các tổ chức chống cộng cũng như quần chúng không thể tham gia toàn toàn tâm, toàn lực và toàn thời gian cho công cuộc chống cộng được, chỉ chống cộng theo phong trào, sau mỗi hoạt động chống cộng ai về nhà nấy lo cho cuộc sống cá nhân,gia đình…
        Nhân dân trong nước, sau 36 năm bị Việt cộng cai trị sắt máu, đa số đã an phận chịu đựng dù còn ý thức chống cộng song bị liệt ý chí, đã không dám có hành động phản kháng dù là tự phát cá nhân trong nhiều năm dài. Chỉ trong thời khoảng 15 trở lại đây, do tác động của chiến lược toàn cầu mới, tình hình trong nước biến chuyển theo chiếu hướng “diễn biến hòa bình” như đã trình bầy ở phần trên, ý thức phản kháng của nhân dân trong nước mới dần dần phục hồi, khởi phát trong một bộ phận nhân dân có hoàn cảnh tiếp cận, tiếp thụ những trào lưu tư tưởng dân chủ tiến bộ, nếp sống văn minh, có được nhận thức tiên tiến, bằng hành động chống cộng, đi từ tự phát cá nhân đến tự giác có tính tổ chức. Một số đảng phái, tổ chức đấu tranh mới trong nước đã hình thành. Một vài tổ chức chống cộng ở hải ngoại cũng đã thức thời phát triển tổ chức và đưa hoạt động vào trong nước. Nhưng các tổ chức chống cộng trong ngoài này vẫn chưa đủ lực phát huy sức mạnh của quần chúng tổng nổi dậy lật đổ bạo quyền.
      Việt cộng tất nhiên cũng nhình thấy nguy cơ cần ngăn chặn, nên đã  phải trấn áp, nhưng không còn triệt để và tàn bạo như những thời khoảng trước đây, vì thời thế đã đổi thay, chiếu hướng mới không thể đảo ngược “Độc tài toàn trị cộng sản phải bị tiêu vong từng bước, dân chủ đa nguyên sẽ hình thành ở cuối quá trình tiêu vong này”. Do đó, mọi nỗ lực trấn áp nhân dân của Việt cộng theo kiểu “Mềm nắn, rắn buông” cũng chỉ là để níu kéo thêm thời gian độc quyền thống trị cho Cộng đảng Việt Nam mà thôi.
      - Về đối ngoại.
         Việt Cộng cũng vẫn chiếm ưu thế hơn Việt quốc.
         Đối với Việt cộng, có ưu thế của một quốc gia, có lãnh thổ, nhân dân và một chính quyền, tuy không chính thống, không chính đáng, không chính danh và bất hợp pháp đối với quốc dân Việt Nam (Vì không phải là chính quyền của dân, do dân và vì dân, mà là một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng CSVN), nhưng về đối ngoại được quốc tế thừa nhận thế hợp thức, hợp lệ hay hợp cách (regular government) theo công pháp quốc tế (Vì hội đủ các yếu tố cấu thành một quốc gia: lãnh thổ, dân cư và chính quyền), nên được coi là một chính quyền chính thức (official government) của quốc gia Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, dù không nhất thiết, không thể là một chính quyền hợp pháp (Legal government) đối với quốc dân Việt Nam.
        Đối với Việt quốc, thất thế đối ngoại vì không có những yếu tố mà đối phương Việt cộng có. Việt quốc lại đã không tạo được ưu thế trên trường quốc tế bằng chính nghĩa chống cộng của mình, một chính nghĩa phù hợp với chiếu hướng của thế chiến lược toàn cầu mới: “triệt tiêu các chế độc độc tài, kinh tế chỉ huy, hình thành chế độ dân chủ, với kinh tế thị trường tự do”.
       Tạo ra ưu thế đội ngoại, chẳng hạn nếu như ngay từ khởi đầu giai đoạn chống cộng hậu chiến tranh Quốc-Cộng, Việt quốc tiếp tục duy trì Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa (lưu vong),với Lưỡng Viện Quốc hội, Tối Cao Pháp Viện …trên căn bản các Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973. Các cơ quan đầu não này sẽ đặt bản doanh ở quốc gia nào cho phép, như Ấn Độ cho phép Chính phủ Tây Tạn lưu vong tá túc sau ngày Tầu cộng thôn tính quốc gia Tây Tạng. Nếu không thì các nhân sự của các cơ quan đầu não này, dựa vào luật pháp quốc gia sở tại thành lập một tổ chức chống cộng thống nhất, lãnh đạo tối cao công cuộc chống cộng, với cơ cấu tổ chức và điều hành các ban ngành như chính quyền của một quốc gia, có ngân sách…để tiến hành công cuộc chống cộng phù hợp với hoàn cảnh thực tế;hoạch định và lãnh đạo thực hiện các hoạt động chống cộng đồng bộ, đều khắp theo một một sách lược chống cộng chung,tạo tư thế tranh thủ sức hậu thuẫn quốc tế trên mặt trận ngoại giao…..
    Tựu chung trên thực tế, Việt quốc chống cộng 36 năm qua vẫn không và vẫn chưa làm được như trên về mặt đối nội cũng như đối ngoại.Vì vậy đã không làm thay đổi được cán cân lực lượng với Việt cộng. Mặc dầu hầu hết các hoạt động chống cộng đều có hiệu quả đem lại những thành quả nhất định, song những hiệu quả và thành quả ấy vẫn chưa “Góp gió thành bão” giật sập chế độ độc tài toàn trị Việt cộng được.
        Nghĩa là, trong quá khứ Việt quốc đã không tạo được sức mạnh và sức nặng thừa đủ để lãnh đạo nhân dân nhận chìm và làm tiêu vong Việt cộng khi thời cơ đến. Chẳng hạn vào thời điểm những năm giữa thập niên 80, khi Việt cộng sa lầy nghiêm trọng vào vũng lầy của những khó khăn chống chất không lối thoát và lòng dân bất mãn đến tột độ, để sau đó Việt cộng đã tự giải cứu bằng con đường “Đổi mới”.
         Nhưng chính sự “Đổi mới” này cũng đã là tiền đề làm tiêu vong Việt cộng về mặt bản thể, đã “biến chất” và sẽ “Biến thể” hoàn toàn ở cuối quá trình tiêu vong. Việt quốc có thể sẽ lại mất cơ hội chủ động giành thành quả cuối cùng ở cuối quá trình tiêu vong này nếu như vẫn duy trì nguyên trạng chống cộng như 36 năm qua.

2.- Triển vọng tương lai.
      Như thế là sau 36 năm Việt quốc chống cộng vì tự do dân chủ cho Đất nước vẫn chưa đạt thành quả tối hậu. Vậy triển vọng tương lai sẽ là gì?
      Theo nhận định của chúng tôi, sự nghiệp chống cộng của Việt quốc có hai triển vọng:
     a)- Triển vọng 1:
          Nếu Việt quốc tiếp tục duy trì nguyên trạng chống cộng như 36 năm qua về cơ cấu tổ chức (phân tán), nhân sự lãnh đạo (đa đầu…) sách lược chống cộng riêng lẻ hay không có sách lược gì, khuynh hướng chống cộng bảo thủ vẫn đóng vai chủ đạo chống cộng và tìm cách triệt hạ khuynh hướng chống cộng cấp tiến. Cả hai khuynh hướng chống cộng này tiếp tục chống phá, tiêu diệt nhau bằng mọi cách, mọi giá  và các hoạt động chống cộng vẫn theo kiểu đánh võ tự do, nặng về cảm tính căm thù hơn là lý tính hiệu quả để thắng cộng…,thì thành quả tối hậu của sự nghiệp chống cộng vẫn cũng sẽ đạt được, song chỉ thành đạt sau một thời gian lâu dài hơn(dự đoán từ 10-20 năm), do tốc độ chậm, cường độ tấn công yếu.
         Nếu coi thành quả tối hậu đạt được sau này ấy là một chiến thắng của Việt quốc, thì thực chất đó chỉ là một “Chiến thắng ăn theo” chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực (thị trường tự do hóa toàn cầu, dân chủ hóa toàn cầu) đã tạo ra những lực đẩy, lực xoay bào mòn nội tạng Việt cộng, phá đổ từng phần, đẩy đưa Việt cộng lùi dân về phía dân chủ và làm tiêu vong hoàn toàn chế độ độc tài toàn trị Việt cộng, hình thành chế độ dân chủ đa nguyên ở cuối quá trình tiêu vong này.
         Thành quả này ví như “Trái sung Việt cộng” đến ngày “Chín rụng” chứ không rơi rụng sớm hơn (do sức rung của lực lượng chống cộng quá yếu) . Sự chín rụng này xẩy ra cùng lúc hay có thể trễ hơn so với tuổi đời thế hệ lãnh đạo và tham gia chống cộng hôm nay (thuộc thế hệ một hay một rưỡi), vì đã qua đi theo qui luật đào thải của thời gian mà không còn cơ hội chứng kiến sự tiêu vong của đối phương Việt cộng và sự hình thành chế độ dân chủ đa nguyên cho Đất nước.
   b) Triển vọng 2:
         Nếu các khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến của Việt quốc ngồi lại được với nhau, hay ít ra đường ai nấy đi, không tìm cách loại trừ nhau mà chấp nhận cùng tồn tại để thành đạt mục tiêu tối hậu chung bằng hai phương cách khác nhau.
        Thế nhưng dù hợp nhất hay cùng tồn tại, cả hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến đều phải duyệt xét, điều chỉnh lại toàn bộ cơ cấu tổ chức,bộ phận lãnh đạo, lực lượng chống cộng, sách lược chống cộng một cách phù hợp với chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực, nhất là sách lược “diệt cộng hậu Chiến tranh Lạnh” (hay là Chiến Tranh Ý Thức Hệ) của Hoa Kỳ. Trong điều kiện này, thành quả tối hậu của sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước của Việt quốc sẽ thành đạt trong một thời gian ngắn hơn (dự kiến 5 – 10 năm) và chủ động hơn. Nghĩa là thành quả tối hậu này sẽ là một “Chiến thắng chủ động của Việt quốc”.
         Một cách đại cương cần duyệt xét và điều chỉnh cho phù hợp:
1.   Cơ cấu tổ chức điều hành và bộ phận lãnh đạo chống cộng:
         Thay vào cơ cấu lãnh đạo chống cộng đa đầu như hiện nay (các Tổ chức Cộng Đồng, các Chính đảng quốc gia, các tổ chức đấu tranh, các nhóm hay cá nhân thân hào nhân sĩ…) bằng một cơ cấu tổ chức và bộ phận lãnh đạo thống nhất: nhất thể nhất đầu (nếu hai khuynh hướng kết hợp được),hay nhất thể lưỡng đầu hay nhất thể đa đầu( nếu hai khuynh hướng chống cộng song song tồn tại)  để cùng lãnh đạo toàn cuộc chống cộng ở hải ngoại và trong nước theo một sách lược chung và riêng một cách phù hợp, có hiệu quả (không đối chọi, mâu thuẫn, phản tác dụng).
      Cơ cấu tổ chức và bộ phận lãnh đạo chung này,với đầy đủ các ban ngành như một chính quyền để nắm rõ tình hình “Ta và địch” và nắm bắt kịp thời những chuyển biến tình hình quốc nội cũng như thế giới . Như vậy mới có những đối sách chủ động, kịp thời, có hiệu quả trên các mặt đấu tranh chủ yếu: Chính trị (vận dụng và huy động sức mạnh nội lực…), ngoại giao (quốc tế vận huy động sức mạnh ngoại lực…) truyền thông, an ninh tình báo,lực lượng vũ trang (để xử dụng khi tình thế đòi hỏi, tỷ như Việt cộng phút chót vẫn ngoan cố bám quyền như tập đoàn độc tài Kadhafi xứ Lybia đã làm hay Al-Assad xứ Syria đang làm…)
      Hệ thống tổ chức theo cấp bộ từ trung ương đến các địa phương trong nước cũng như hải ngoại để lãnh đạo quần chúng chống cộng theo đúng sách lược chung.
       Bộ phận lãnh đạo tối cao cũng như các cấp bộ bao gồm những người tài đức, có tinh thần chấp hành kỷ luật nghiêm túc, dấn thân quên mình cho sự nghiệp chống cộng, có kiến thức,thành tích và kinh nghiệm chống cộng do dân cử (ở hải ngoại)hay suy cử từ các cấp bộ địa phương (trong nước). Những người này cần được huấn luyện, học tập chủ trương, đường lối, sách lược chống cộng chung, kỹ năng lãnh đạo, vận động quần chúng đấu tranh trong mọi tình huống, tạo điều kiện hoạt động toàn thời gian cho cán bộ nòng cốt, đem hết tâm lực phục vụ cộng cuộc chống cộng theo sách lược chống cộng chung. (Chứ không hoạt động bán thời gian, thích thì làm, không thích hay bất mãn thì thôi,chống cộng kiểu tài tử, chống cộng theo kiểu đánh võ tự do, ai muốn chống cộng kiểu nào cũng được,chống cộng theo kiểu phong trào, sau các hoạt động, lãnh đạo cũng như quần chúng tham gia, ai về nhà nấy, không họp bàn tổng kết hiệu quả, thành quả , kiển điểm rút kinh nghiệm… như thực trạng chống cộng bao lâu nay)
2.- Điều chỉnh Sách lược chống cộng:
        Điều chỉnh (correct, readjust) hay cải tiến (Improve) khác với thay đổi (change) hay đổi mới (Innovate, innovation), nên  điều chỉnh Sách lược chống cộng (Correct the anti-communist tactics) chỉ cần cải tổ cơ cấu tổ chức, nhân sự điều hành, sách lược chống cộng sao cho phù hợp với thực tế và có hiệu quả trong các hoạt động chống cộng hiện nay. Nghĩa là sự điều chỉnh bằng cách duyết xét lại toàn bộ các mặt trên, để giữ lại những gì còn hữu dụng, loại bỏ những gì lỗi thời,phản tác dụng, thêm vào những cái mới phù hợp thực tiễn, có hiệu quả.
         Sự cải tiến như vậy có tính kế thừa, sẽ kết hợp được cả hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến, không loại trừ nhau hay tìm cách loại trừ nhau như quá khứ từng xẩy ra, làm suy yếu thế lực chống cộng, có lợi cho đối phương Việt cộng.Sự điều chỉnh này cũng là để thích dụng với biến chuyển của tình hình quốc nội cũng như quốc tế cho phù hợp và có hiệu quả (Chứ không thể chống cộng theo kiều “lạc đà chui đầu xuống bãi cát” không cần biết những thay đổi quốc tế cũng như quốc nội Việt Nam).
      Chẳng hạn về địa bàn chống cộng cần được mở rộng và phương thức chống cộng cần phải thay đôi cho phù hợp với biến chuyển tình hình mới. Ngoài địa bàn cho các hoạt động chống cộng từ xa ở hải ngoại (hậu phương), cần đưa các hoạt động chống cộng vào địa bàn trong nước (tiền tuyến). Muốn làm được điều này Việt quốc cần xây dựng tổ chức, qui tụ, huấn luyện đào tạo nhân sự có tài trí lãnh đạo quần chúng đấu tranh trong lòng địch theo sách lược chung.
       Về phương thức chống cộng cần tìm cách tiếp cận với đối phương để đấu tranh, bằng đối đầu, đối thoại công khai tại hải ngoại,cũng như  trong nước (bằng thế hợp pháp, bán hợp pháp hay bất hợp pháp) để có cơ hội chủ động tấn công vào các tử huyệt của đối phương, đánh bại Việt cộng về mặt lý luận, tiêu diệt từng bước “Chất độc tài”, thuyết phục, lôi kéo quần chúng về phía “Chính nghĩa quốc gia”, cô lập Việt cộng, để không còn ai tin vào những tuyên truyền lừa bịp láo khoét của “ngụy nghĩa Việt cộng”. Đây cũng là bước chuẩn bị tiền “dân chủ đa nguyên” sẽ hiện thực vào cuối quá trình tiêu vong của Việt cộng, để khi hữu sự Việt quốc có thế và lực giành thắng lợi trong các cuộc tranh cử (với cả Việt cộng một khi đã bị buộc phải từ bỏ độc tài nhất nguyên cộng sản, chấp nhận dân chủ đa nguyên), thực hiện lý tưởng của mình.
     Sự điều chỉnh phương thức chống cộng này cũng là cách tốt nhất để qui tụ và phát huy  sức mạnh của quần chúng nhân dân, vốn là chủ lực kết thúc quá trình chuyển thể từ “Độc tài toàn trị” Việt cộng qua “Dân chủ đa nguyên” tại Việt Nam.
     Vì dù muốn hay không, Việt quốc cũng phải chuẩn bị lực lượng đối đầu với Việt cộng trong các trận thư hùng để giành thắng lợi cuối cùng trên hai trận địa :Đường phố và nghị trường, trước cũng như sau khi hình thành nền dân chủ đa nguyên tại Việt Nam.
     Bởi vì,căn cứ vào những diễn biến tình hình thực tế quốc nội cũng như quốc tế trong những tháng năm gần đây, nhiều người dự kiến Việt Nam có thể “chuyển thể” từ độc tài nhất nguyên cộng sản qua dân chủ đa nguyên tư bản” theo một trong những cách sau đây:
    1.- Việt cộng tự nguyện, tự giác,chủ động thực hiện một tiến trình chuyển thể, dưới áp lực ngày một gia tăng của lực lượng quần chúng nhân dân trong nước và quốc tế.
        Kết thúc tiến trình này có thể gần giống kiểu Liên Xô và các nước  xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 hay theo chiều hướng chế độ độc tài quân phiệt Miến Điện đang muốn làm khởi sự từ thời gian gần đây (Có lẽ không muốn chung số phận bi thảm và làm tan hoang đất nước như các tập đoàn thống trị độc tài ở Bắc và Trung cận đông mới bị lật đổ).
     Tuy nhiên sự tự nguyện, tự giác và chủ động thực hiện chuyển thể không phải là sáng kiến của Việt cộng mà là do áp lực của nhân dân và quốc tế đến thời điểm buộc Việt cộng phải hành xử như vậy; Và làm được như vậy cũng là vì quyền lợi thiết thân của chính Cộng đảng Việt Nam, để hy vọng vẫn được tồn tại trong một thể chế dân chủ đa nguyên tương lai.
         Do đó, Việt quốc vẫn cần sức mạnh quần chúng xuống đường để mau kết thúc tiến trình “chuyển thể”, như các cuộc xuống đường của nhân dân Liên- Xô, mà lần cuối cùng bao vây quốc hội Nga (Viện Duma) đã buộc được đảng Cộng sản Liên Xô phải dứt khoát từ bỏ độc quyền thống trị sau hơn 70 năm (1917-1991) , chấp nhận  dân chủ đa nguyên, vào thời điểm “Cách mạng chín mùi”, các lực lượng bảo vệ “Nền chuyên chính vô sản” (tức độc tài cộng sản) là quân đội, công an phải buông súng, không còn giám bắn giết, đàn áp nhân dân nữa.
         2.-Nếu Việt cộng chọn cách chuyển thể theo kiểu  Ai Cập mới đây, vẫn cần sức mạnh quần chúng nhân dân để kết thúc quá trình chuyển thể. Việt quốc phải làm sao huy động và lãnh đạo được các cuộc xuống đường của quần chúng nhân dân tạo sức mạnh đối trọng vượt trội đẩy Việt cộng đến con đường cùng phải đầu hàng, và sau đó phải nhận chịu sự phán xét công tội trước tòa án công lý.
        Nghĩa là tương tự  như các cuộc xuống đường đầy khí thế của nhân dân Ai Cập đã cô lập được tập đoàn độc tài của Tổng thống Murbarack với quân đội, đi đến kết thúc chế độ độc tài Murbarack sau hơn 30 năm toàn trị.Sau đó, cá nhân  Tổng thống Ai Cập Murbarck và những bộ hạ thân tín có trách nhiệm trong guồng máy độc tài toàn trị  đã phải ra trước  Tòa án công lý để nhận chịu những hình phạt tương xứng với các hành vi tội ác đã làm trong suốt thời gian cầm quyền độc tài.
       3.-Nếu Việt cộng chọn cách chuyển thể theo kiểu Rumani với nhà độc tài Caucescu vào cuối thập niên 80 hay theo kiểu nhà độc tài Moumur Kadhafi mới đây (2011) và nhà độc tài  Al- Bassad hiện nay, Việt quốc vẫn cần sức mạnh quần chúng nhân dân để kết thúc quá trình “chuyển thể”.
         Nghĩa là trong mọi hoàn cảnh, Việt quốc vẫn phải làm sao huy động và lãnh đạo được lực lượng nổi dậy của quần chúng nhân dân, tạo được thế lực thừa đủ tiêu diệt Việt cộng, một khi đã bị đẩy đến con đường cùng, mà tập đoàn thống trị Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố không chịu đầu hàng, tiếp tục chống lại nhân dân đến cùng, các lãnh đạo Việt cộng hàng đầu có trách nhiệm chấp nhận số phận bi thảm như Caucescu bị treo cổ và Kadhafi bị thảm sát…
      Như vậy, trong cả ba cách chuyển thể trên, sức mạnh quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định. Thế nhưng nếu muốn huy động được sức mạnh này, quần chúng nhân dân cần được đoàn ngũ hóa, có tổ chức và lãnh đạo dấu tranh theo một sách lược chung có hiệu quả. Nhưng để làm được như vậy,điều tiên quyết vẫn là Việt quốc phải kiện toàn về tổ chức, sách lược chống cộng, như chúng tôi đã trình bầy ở phần trên để làm thay đổi được cán cân lực lượng với ưu thế sức mạnh nghiêng về phía Việt quốc.
      Ưu thế chỉ có được nếu trên thực tế Việt quốc kết hợp được nội lực (sức mạnh quấn chúng nhân dân,cô lập và làm tê liệt các lực lượng bảo vệ chế độ Việt cộng) và ngoại lực (sức mạnh quốc tế) như nhân dân các nước Tunisia, Ai Cập và Lybia đã làm được.
       Bởi vì, thực tế cho thấy,sở dĩ các cuộc cách mạng dân chủ ở một số nước vùng Trung Cận Đông vừa qua đã thành công, ngoài sức mạnh quần chúng, còn có sức mạnh quốc tế, từ áp lực chính trị, ngoại giao, kinh tế (đối với các chính quyền độc tài Tunisia, Ai cập…) đến hành động can thiệp quân sự trực tiếp (Lybia, với các cường quốc ném bom dưới danh nghĩa thực hiện nghị quyết “Vùng cấm bay”của Liên Hiệp Quốc để bảo vệ thường dân, thực tế là yểm trợ phe nỗi dậy chống và tiêu diệt chế độ độc tài Kadhafi). Hiện nay, người ta thấy rõ là vì thiếu sự hổ trợ ngoại lực (can thiệp trực tiếp cách nào đó của quốc tế), cuộc cách mạng của nhân dân Syria đã khựng lại vì tương quan lực lượng không cân sức với chính quyền của nhà độc tài Bashir Al-Assad.Với ưu thế nắm chính quyền, có quân đội và các lực lượng võ trang trong tay, nhà độc tài này đã thẳng tay đàn áp giã man các lực lượng quần chúng nhân dân nổi dậy, hàng  ngàn người đã bị giết trong  khoảng 10 tháng qua, bất chấp sự lên án, áp lực quốc tế chưa đúng mức.(Lại có sự bất đồng giữa các cường quốc biện pháp ứng xử với chính quyền của nhà độc tài Al- Assad, như thái độ của Nga và Tầu cộng có khuynh hướng chống lại sự can thiệp quốc tế do quyền lợi gắn bó với chính quyền này)  
        Do có chỗ dựa, dường như nhà độc tài Al-Assad của Syria muốn theo gương nhà độc tài Kadhafi ở Lybia chiến đấu đến khi không còn bảo vệ được chế độ độc tài toàn trị cha truyền con nối kéo dài hàng thập niên của mình, với hy vọng “quốc tế sẽ không dám” can thiệp mạnh bạo như ở Lybia, nhờ đó có thể thoát hiểm, chủ động chuyển giao quyền lực cách nào đó an toàn hơn, tránh được số phận bi thảm như nhà độc tài Kadhafi chăng?
    Theo những tin tức và dấu hiệu mới nhất nhận được từ nội bộ Cộng đảng Việt Nam, thực tế dường như những lãnh đạo hàng đầu đảng và nhà nước Việt cộng đã có phần nao núng trước những biến chuyển tại các quốc gia Bắc Phi và Trung Cận Đông, nhất là tại Miến Điện, với sự chủ động khởi sự một tiến trình dân chủ hóa đất nước của tập đoàn dộc tài quân phiệt nước này. Một trong những dấu hiệu bộc lộ sự nao núng được công luận biết đến là mới đây, trong diễn văn kết thúc Hội Nghị 4 Trung Ương Cộng đảng Việt Nam (Khóa 11) , Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã kêu gọi toàn đảng phải ra sức chỉnh đốn đảng và chế độ hay là chết. Sự thể này cho thấy “Chỉnh đốn đảng” không có nghĩa là để “Đảng ta” tiếp tục độc quyền thống và “xây dựng xã hội chủ nghĩa” theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa (Vì thực tế toàn đảng đã ném mục tiêu này vào sọt rác từ lâu,các cán bộ đảng viên lớn bé đã bị tư sản hóa từ lâu rồi)  Thực tế phải chăng Cộng đảng Việt nam đã biết “trông người mà nghĩ đến ta”, đã nghĩ đến việc “cần chỉnh đốn đảng và nhà nước” sao cho phù hợp tình hình mới, để có thể sống còn trong chiều hướng mới không thể đảo ngược (mọi hình thái độ tài phải tiêu vong, dân chủ lên ngôi toàn cầu) ít nhất cũng phải được một kết cuộc như Liên Xô Tổ quốc  Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây của mình, trong đó Cộng đảng Việt Nam vẫn còn có chổ đứng trong khung cảnh một chế độ dân chủ đa nguyên.
    Tựu chung, trong mọi cách chuyển thể trên, cuối cùng đều dẫn đến nền dân chủ đa nguyên, về nguyên tắc Cộng đảng Việt Nam vẫn có quyền tồn tại, một khi chấp nhân khung cảnh sinh hoạt dân chủ đa nguyên và thực hành một Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ đa nguyên.
        Trong khung cảnh này,quần chúng nhân dân vẫn là lực lượng chủ yếu nắm quyền quyết định qua lá phiếu bầu cử tự do. Vì vậy các chính đảng Việt quốc vẫn cần tranh thủ sức hậu thuẫn của nhân dân để giành chính quyền, hiện thực lý tưởng tự do dân chủ của mình. Nếu các chính đảng Việt quốc không đủ mạnh độc lập hay liên kết được với nhau, không thuyết phục, lãnh đạo, lôi kéo được quần chúng nhân dân ủng hộ, các chính đảng Việt quốc vẫn có thể thua bại Việt cộng trên nghị trường và Cộng đảng Việt Nam có thể sẽ là đảng mạnh nhất dù chỉ là thiểu số so với đa số các chính đảng Việt quốc phân tán cùng tồn tại trong khung cảnh dân chủ đa nguyên..
      KẾT LUẬN:
      36 năm qua, Việt quốc với động lực là lòng yêu nước, đã chống cộng hết lòng vì tự do dân chủ cho Đất nước. Đây là giai đoạn chống cộng cuối cùng để khẳng định chính nghĩa, chân lý thuộc về ai. Việt quốc không chỉ có niềm tin mà còn được thực tế ngày một khẳng định chính nghĩa và chân lý ấy thuộc về Việt quốc và sau cùng “Chính nghĩa Việt quốc tất thắng ngụy nghĩa Việt cộng”.
           Tuy nhiên “chân lý, chính nghĩa tất thắng” chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Điều kiện đủ là Việt quốc phải làm sao phát huy được sức mạnh của chân lý,chính nghĩa để huy động được sức mạnh tổng hợp nội lực (trong nước) và ngoại lực (quốc tế) làm thay đổi cán cân lực lượng, thừa đủ triệt tiêu chế độ độc tài nhất nguyênViệt cộng, hình thành chế độ dân chủ đa nguyên Việt quốc.
         36 năm qua, Việt quốc vẫn chưa thành đạt được hoàn toàn mục tiêu tối hậu này vì các hoạt động chống cộng chỉ có tác dụng đem lại những thành quả cục bộ, phân tán nên không làm thay đổi được cán cân lực lượng mà ưu thế vốn nghiêng về phía Việt cộng.
        Nguyên nhân khách quan là vì Việt quốc đã phải đấu tranh trong một tình thế quốc nội cũng như quốc tế không thuận lợi như đối phương Việt cộng.
        Nguyên nhân chủ quan là nội bộ Việt quốc đã không đoàn kết thống nhất được về tổ chức để có một đầu não lãnh đạo chống cộng khả dĩ đối trọng được với Cộng đảng Việt Nam và cũng không có được một sách lược chống cộng chung phù hợp với biến chuyển thực tiễn, có hiệu quả để có sức thuyết phục lôi kéo được sức mạnh quần chúng trong cũng như ngoại nước chủ động tấn công Việt cộng toàn diện, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi sau cùng.
      Thế nhưng, dù chưa có được thành quả toàn cuộc, song hiệu quả các hoạt động chống cộng 36 năm qua của Việt quốc đã gián tiếp tạo được một phần thành quả toàn cuộc do phù hợp với chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực nói chung,Hoa Kỳ nói riêng.Đó là đảng và chế độ Việt cộng đã “Biến chất hoàn toàn về mặt bản thể” và sẽ “Biến thể hoàn toàn về chế độ chính trị ” ở cuối quá trình tiêu vong.
    Sự tiêu vong chế độ độc tài toàn trị Việt cộng đã là một tất yếu, vấn đề chỉ còn là thời gian sớm hay muộn mà thôi. Sự hình thành chế độ dân chủ đa nguyên tại Việt Nam sẽ là một tất thắng của Việt quốc.
     Vấn đề chỉ còn là Việt quốc có chủ động giành được sự tất thắng sau cùng này hay chỉ có được một “chiến thắng ăn theo” do sự đẩy đưa của các lực đẩy, lực xoay của chiến lược quốc tế mới. Thẩm quyền giải đề này thuộc về những chính đảng quốc gia,các tổ chức, đoàn thể chống cộng đóng vai trò lãnh đạo công cuộc chống cộng vì tự do dân chủ cho Đất nước.
Thiện Ý
Houston 27-1-2012

Những vấn đề của chúng ta:VẤN ĐỀ HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC.

Những vấn đề của chúng ta:
VẤN ĐỀ HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC.

Thiện Ý

·       ĐẶT VẤN ĐỀ:
       Vấn đề “Hoà giải và hoà hợp dân tộc” đã được đăt ra từ lâu, có lẽ là từ khi cụm từ này xúât hiện trong văn bản Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973. Cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” sau này tại hải ngoại đã được dùng như một trong những nhãn hiệu của “nón cối”, để một số kẻ dùng như vũ khí tấn công đối phương mỗi khi có mâu thuẫn cá nhân cũng như tập thể, không chỉ liên quan đến mâu thuẫn về quan điểm và phương thức chống cộng giữa hai khuynh hướng chống cộng cực đoan và cấp tiến, mà còn được được lợi dụng mỗi khi có mâu thuẫn vì tư thù cá nhân không liên quan gì đến vấn đề chống cộng.  Vì vậy, mặc nhiên “hoà giải và hoà hợp dân tộc” đã như một “húy kỵ” khiến những ai mỗi khi viết lách phải thận trọng khi phải xử dụng cụm từ này.
       Cuối Tháng 3 năm 1992 gia đình chúng tôi đặt chân đến Thành phố Houston theo diện đoàn tụ gia đình (vì không có chương trình HO nào dành cho tù nhân “phản động” ). Khoảng vài tuần sau, tôi bắt đầu viết lại tài liệu đã khởi thảo và phổ biến bí mật từ trong nước năm 1977 và được dùng làm tài liệu học tập cho Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam thành lập cũng vào năm này (Tài Liệu Nghiên Cứu Lý Luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tê Mới). Tháng 4 năm 1995, tài liệu này được ấn hành lần đầu và lần lượt được ra mắt tại Thành phố Houston, Dallas Tiểu bang Texas, New Orleans Tiểu bang Louisiana. Một trong các vị được chúng tôi ký tặng sách thuộc hàng ngũ lãnh đạo chống cộng hàng đầu theo khuynh hướng cực đoan trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận lúc đó là Cố Đại Tá Trần Ngọc Đoá đã ghé tai tôi nói nhỏ “ Này, tôi nghe nói sách của luật sự đưa ra chủ trường Hoà giải và hoà hợp với Việt cộng phải không?”. Tôi có thưa lại rằng: “Đại tá mới chỉ nghe nói, vây bây giờ Đại tá hãy đọc đi xem tôi có chủ trương hoà giải hoà hợp với Việt Cộng hay không?”.
     Sở dĩ có thắc mắc này, là vì trong Phần cuối Chương II của tập tài liệu tôi viết, có “Luận Bàn Về Một Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam”, trong đó có “Thử Đề Nghị Một Giải Pháp Toàn Cuộc” (Xin xem tài liệu đính kèm bài viết này) với ba bước tiến đền nền “Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc”. Mặc dầu chúng tôi đã lưu ý đến tính nhậy cảm của cụm từ này, đã phải khẳng định rằng Việt Nam không có vấn đề “Hoà giải và hoà hợp dân tộc, mà chỉ có vấn đền hoá giải mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc”.

        Vậy thì, Hoà giải và hoà hợp dân tộc là gì và vì sao người Việt Quốc gia cho đến nay vẫn kiến quyết chống lại hoà giải và hoà hợp dân tộc ? Việt cộng có thực tâm muốn hoà giải và hoà hợp dân tộc hay không? Đó là nội dung bài tham luận hôm nay của chúng tôi.

I/- HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC LÀ GÌ?

      Trước hết để trả lời câu hỏi hoà giải và hoà hợp dân tộc là gì, chúng ta cần hiểu ý nghĩa chung và ý nghĩa riêng của những từ ngữ trong cụm từ này.
      Về ý nghĩa chung hoà giải là giải quyết mâu thuẫn một cách hoà bình để đi đến sự hợp nhất trong hoà bình. Nếu mâu thuẫn ấy là mâu thuẫn trong lòng một dân tộc, thì hoà giải và hoà hợp dân tộc là mâu thuẫn ấy cần được giải quyết một cách hoà bình để đi đến sự hợp nhất dân tộc trong hoà bình, tức hoà hợp dân tộc.
        Từ ý nghĩa chung, đi vào ý nghĩa riêng của hoà giải và hoà hợp dân tộc Việt Nam. Đó là giải quyết một cách hoà bình mâu thuẫn phát sinh từ cuộc chiến tranh Quốc-Cộng và tồn tại trong lòng dân tộc việt Nam cho đến hôm nay để đi đến hoà hợp dân tộc. Trong ý nghĩa riêng này cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc”. Theo nghĩa rộng là giải quyết hoà bình mâu thuẫn trong lòng dân tộc giữa những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia và những người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản. Theo nghĩa hẹp là giải quyết hoà bình mâu thuẫn trong lòng dân tộc giữa hàng ngũ lãnh đạo trong cuộc chiến tranh quốc - cộng vừa qua (1954-1975) cho đến hôm nay.
        Theo nhận định của chúng tôi, sau 36 năm chấm dứt cuộc nội chiến ý thức hệ quốc – cộng, nghĩa rộng của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” không còn gia trị thực tế. Vì thực tế nhân dân hai Miến Bắc Nam đã tự hoá giải mâu thuẫn một cách hoà bình bằng chính thực tiễn sinh động đã giúp tất cả nhận thức được thực chất của cuộc chiến tranh quốc-cộng hôm qua chỉ là một cuộc chiến do ngoại bang thực hiện thông qua những chính quyền công cụ bản xứ, xô đẩy nhân dân hai miền vào một cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, bằng những chiêu bài lừa mị, đã tàn phá tan hoang đất nước, phân hoá dân tộc, để lại di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho đất nước.
        Như vậy thực tế nay chỉ còn tồn tại trong lòng dân tộc ý nghĩa hẹp của cụm từ “Hoà giải và hoà hợp dân tộc”. Nghĩa là chỉ còn tồn tại mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc thuộc hai phe quốc- cộng. Muốn hoà giải và hoà hợp dân tộc thiết tưởng chỉ cần “hoá giải mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”. Đó là mâu thuẫn giữa những người cộng sản lãnh đạo dân tộc theo con đường độc tài toàn trị, độc đảng độc quyền thống trị, với những người quốc gia lãnh đạo dân tộc theo con đường dân chủ pháp trị, đa nguyên đa đảng. Do đó “hoà giải và hoà hợp dân tộc” chính là giải quyết mâu thuẫn này một cách hoà bình để đi đến hoà hợp dân tộc toàn diện.
       Tất cả ý  nghĩa riêng theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp  của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” nghe có vẻ tốt đẹp, nhưng tại sao lại bị người Việt quốc gia cự tuyệt? Phải chăng người Việt Quốc Gia chống cộng vì hiếu chiến hay sao?

II/- VÌ SAO NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHO ĐẾN NAY VẪN CHỐNG LẠI HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC?
    Câu trả lời thật minh bạch: Người Việt quốc gia sở dĩ cho đến nay vẫn kiên quyết chống lại hoà giải và hoà hợp dân tộc kiểu Việt cộng, chứ không chống mà còn luôn mong muốn hoà giải và hoà hợp dân tộc theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này.
    Thật vậy, ai cũng biết là dầu muốn dầu không cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc- Cộng tại Việt Nam kéo dài trong nhiều thập niên qua cho đến nay vẫn chưa chấm dứt đã làm phân hoá dân tộc. Cuộc chiến ấy xuất phát trước hết từ sự mâu thuẫn do sự bất đồng trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc Quốc- Cộng về mô hình chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội thực hiện cho đất nước.Chính mâu thuẫn này đã đưa đến xung đột qua cuộc chiến tranh quốc cộng (1954-1975) do Việt cộng phát động nhằm giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực. Nhưng thực tế cho thấy, bạo lực đã không giải quyết được mâu thuẫn này, dù phe Việt cộng đã giành được quyền thống trị trên cả nước và đã có cơ hội thực hiện mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội theo cộng sản chủ nghĩa 36 năm qua(1975-2011) và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc Việt Nam (1854-1975)
         Thực tế cũng đã khẳng định mô hình cộng sản chủ nghĩa là không tưởng, gây hậu quả tai hại toàn diện và lâu dài cho đất nước, và Việt cộng cũng đã nhận thức được điều này để bước vào con đường “đối mới” từ năm 1986 để cứu tập đoàn thống trị độc quyền là đảng Cộng sàn Việt Nam, chứ không vì lợi ích của Dân tộc, Đất nước. Do đó, mặc dầu thực tế Việt cộng đã và đang từng bước đi theo mô hình “kinh tế thị trường tự do theo định hướng tư bản chủ nghĩa”, nhưng vẫn ngụy biện “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, để cố bám lấy cái vỏ “Xã hội chủ nghĩa” để xử dụng kỹ thuật “chuyên chính vô sản” độc chiếm quyền thống trị cho cái đảng cũng mang nhãn hiệu giả tạo là đảng Cộng sản sản Việt Nam( Vì hơn ai hết người cộng sản Việt Nam đều biết rằng làm gì có một đảng Cộng sản Việt Nam với phẩm chất theo đúng lý tưởng Cộng sản Chủ nghĩa, và cũng biết không thể và không bao giờ thực hiện được mô hình “Xã Hội Chủ Nghĩa” theo chủ nghĩa cộng sản không tưởng. Thực tế cái gọi là “Đảng Cộng Sản Việt Nam” đã và đang xử dụng các bảng hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam” và  chế độ “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” theo kiểu gian thương “Treo đầu dê, bán thịt chó”). Nghĩa là tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn không “đổi mới” mô hình chính trị phù hợp là chế độ dân chủ đa nguyên, vốn là mục tiêu tối hậu mà người Việt Quốc gia đã chiến đầu kiên trì trong nhiều thập niên qua để thành đạt. Mục tiêu tối hậu này đã được thực tế ngày một khẳng định giá trị hiện thực và cho thấy chân lý thuộc về ai, Việt quốc, hay Việt cộng, ai đúng ai sai? Và rằng: Chiều hướng mới không thể đảo ngược, dân chủ tất thắng độctài các kiểu trên phạm vi toàn cầu, trong đó có kiểu độc tài toàn trị cộng sản tại Việt Nam.
        Đây chính là mâu thuẫn căn bản giữa Việt Quốc và Việt cộng và là nguyên nhân cơ bản làm phân hoá dân tộc. Việt cộng khi phát động chiến tranh dù xâm chiếm được Miền Nam của Việt quốc, song vẫn không giải quyết được mâu thuẫn trong lòng dân tộc, mà còn khoét sâu mâu thuẫn này. Vì vậy, hơn ai hết người Việt quốc gia mong muốn giải quyết mâu thuẫn này một cách hoà bình. Nhưng thực tế vẫn phải chống lại “hoà giải và hoà hợp dân tộc kiểu cộng sản”. Theo đó, họ chỉ đơn phương kêu gọi người Việt quốc gia hãy quên quá khứ, quên hận thù, đừng chống cộng nữa, mà hãy hợp tác toàn diện với nhà cầm quyền chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay, để xây dựng phát triển đất nước.
       Như vậy chỉ là sự áp đặt một chiều, không có sự hoà giải vì Việt cộng không chính thức đưa ra phương cách cụ thể để Việt quốc và Việt cộng giải quyết mâu thuẫn căn bản một cách hoà bình, để đi đến hoà hợp dân tộc, mà chỉ “đánh tiếng” hay ngầm thuyết phục lôi kéo một số cá nhân Việt quốc về nước “hoà hợp” với chế độ. Nghĩa là Việt cộng chỉ tiến hành một chính sách chiêu hồi người quốc gia hợp tác toàn diện, vô điều kiện với chế độ. Do đó, người Việt quốc gia không chấp nhận được, vì đó là điều nghịch lý khi cái đúng phải qui thuận cái sai, chính nghĩa quốc gia phải qui thuận ngụy nghĩa cộng sản.

III/- VIỆT CỘNG CÓ THỰC TÂM MUỐN HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC HAY KHÔNG?
        Câu trả lời khẳng định là không, cho đến lúc này Việt cộng vẫn không có thực tâm muốn “hoà giải và hoà hợp dân tộc” theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này, mà chỉ xử dụng nó như là chiêu bài tuyên truyền lừa mị, đánh động tình tự dân tộc, để lối kéo những người Việt quốc gia hay là những người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, hãy quên quá khứ, quên hận thù, đừng chống cộng nữa, “hoà hợp” mà “không hoà giải” (giữa Việt cộng Việt quốc), để xây dựng đất nước (mà thực chất là để củng cố quyền thống trị độc quyền, độc tôn và độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam).
       Vì sao Việt cộng không có thực tâm “hoà giải và hoà hợp dân tộc”? – Là vì cho đến lúc này Việt cộng vẫn tự tin một cách sai lầm rằng, với khoảng ba triệu đảng viên cộng sản chia nhau quyền thống trị đất nước, nắm trong tay quân đội, công an và các lực lượng võ trang bảo vệ vững chắc nền “chuyên chính vô sản”, có uy thế quốc tế, trong khi không có lực lượng đối trọng nào trong nước cũng như hải ngoài đe doạ được sinh mạnh chính trị của chế độ…Và vì vậy Việt cộng thấy không cần “hoà giải và hoà hợp với ai” mà chỉ muốn chiêu hồi người Việt quốc gia bằng chiều bài “hoà giải hoà hợp dân tộc” lừa mị mà thôi.
       Thực tế trong quá khứ, Việt cộng đã từng chỉ dùng “hoà giải và hoà hợp dân tộc” như một chiều bài lừa mị khi xử dụng cụm từ nay lần đầu tiên trong bản Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình Việt Nam ngày 27-1- 1973 liên quan đến cái gọi là “Hội Đồng Quốc Gia hoà giải hoà hợp dân tôc ba thành phần”. Nhưng rồi sau đó, như mọi người đếu biết, “Hội Đồng Quốc Gia hoà giải hoà hợp dân tộc” không bao giờ có ở Miền Nam,Việt cộng đã vi phạm trắng trợn bản hiệp định này khi dùng bạo lực thôn tính Miền Nam, trước sự làm ngơ của những bảo đảm quốc tế.Chúng ta hay cùng đọc lại Khoaûn (a) ñieàu 11 Hiệp Định Paris 1973 đã ghi “Ngay sau khi ngöng baén, hai beân Mieàn Nam Vieät Nam seõ hieäp thöông treân tinh thaàn hoaø giaûi vaø hoaø hôïp daân toäc, toân troïng laãn nhau vaø khoâng thoân tính laãn nhau ñeå thaønh laäp Hoäi Ñoàng Quoác Gia Hoaø Giaûi vaø Hoaø Hôïp Daân Toäc goàm ba thaønh phaàn ngang nhau...”.
      Thực tế, trong quá khứ, Việt cộng cũng đã không quan tâm đáp ứng những giải pháp có tính hoà giải hoà hợp dân tộc được đề nghị từ một số cá nhân hay doàn thể người Việt Quốc gia, trong đó có đề nghị của chúng tôi về một “Giải pháp toàn cuộc cho vấn đề tương lai dân tộc Việt Nam”. Giải pháp toàn cuộc này chúng tôi đã trình bầy chi tiết trong tập Tài Liệu Nghiên Cứu Lý luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới ấn hành lần đầu tháng 4 năm 1995 và giữ lại trong lần tái bản tháng 4 năm 2005. Đại cương chúng tôi đề nghị một giải pháp ba bước tiến đến nền Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc:
·       Bước một: Triệu tập “Hội Nghị Hoá Giải Mâu Thuẫn Về Lãnh Đạo Dân Tộc”.
·       Bước hai: Triệu tập “Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”
·       Bước Ba: Hình thành chế độ Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc.
(Đính kèm theo bài viết này:Toàn bộ chi tiết của Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam trình bầy trong Phần IV Chương II, Tài Liệu Nghiên Cứu Lý Luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới)

IV/- KẾT LUẬN:
       Hoà Giải và Hoà hợp Dân tộc theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này, vốn là ước nguyện chung của người Việt Quốc Gia ở hải ngoại cũng như người Việt Nam không cộng sản trong nước. Nhưng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại cho đến nay vấn chống “Hoà giải và hòa hợp dân tộc kiểu cộng sản” vì đó chỉ là chiêu bài lừa mị. Thực chất Việt cộng không muốn hoà giải với Việt Quốc, mà chỉ muốn Việt Quốc hoà hợp với Việt cộng vô điều kiện, không chịu giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa Việt Quốc và Việt Cộng vốn là nguồn gốc làm phân hoá dân tộc.
     Nếu Việt cộng có thiện chí “Hoà giải hoà hợp dân tộc” thực sự, thì họ đã có nhiều cơ hội để làm điều này, cơ hội lớn nhất là sau ngày 30-4-1975, đúng như một số lãnh đạo hàng đầu “cộng sản phản tỉnh”, tiêu biểu như Ông Võ Văn Kiệt, và nhiều người cộng sản khác đã ân hận và nuối tiếc sau này. Hoặc đã làm ngơ trước những đề nghị tương tự như đề nghị của cá nhân chúng tôi vào năm 1995 về một “Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam”. Tiếc rằng Việt cộng đã không đáp ứng vào thời điểm mà đa số các nhà lãnh đạo hàng đầu Việt Nam Cộng Hoà còn sống,như Hành pháp (Các vị nghị sĩ, dân biểu lưỡng viện Quốc Hội), Lập Pháp (Tổng Thống, Thủ Tướng và Nội Các…), Tư pháp Việt Nam Cộng Hoà (Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện…) và quân đội VNCH (Các Tướng Lãnh…)
     Thành ra đến nay, vào lúc này, một giả định nếu như Việt cộng có chính thức đưa ra hay chấp nhận đề nghị  cùng với Việt quốc thực hiện một tiến trình “hoà giải và hoà hợp dân tộc” thực sự, khả tín, thì ai, những cá nhân hay tổ chức nào phía Quốc gia sẽ có tư cách đại diện người Việt quốc gia hải ngoại tham dự ? 
       Trong bối cảnh đa đầu phân tán của các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại hiện nay, tìm được câu trả lời hiện thực, thoả đáng cho câu hỏi này không phải là dễ. Thành ra, thực tế nhất, nếu Việt cộng có thực tâm “hoà giải và hoà hợp dân tộc”, họ chỉ cần tự hoá giải mâu thuẫn căn bản Quốc- Cộng, bằng hành động thực tiễn, là tự giác thực hiện điều mà người Việt quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước mong muốn, đòi hỏi: là Đảng Cộng sản Việt Nam hãy tự giác từ bỏ độc quyền chính trị, dân chủ hoá đất nước. Nếu họ làm được như vậy, và chỉ cần làm như vậy, “hoà giải và hoà hợp dân tộc” khắc đến và người Việt Quốc gia ở hải ngoại sẽ ngừng chống cộng,  sẵn sàng bỏ qua quá khứ (dù hận thù khó quên), sẵn sàng tự nguyện tự giác đem tiền của, tài năng về hợp tác toàn diện với chính quyền của dân, do dân và vì dân để phục vụ đất nước, chứ nhất định không phục vụ cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay hay bất cứ chế độ chính trị độc tài  không cộng sản nào khác hình thành sau này.

Thiện Ý
Houston, ngày 9-4-2011     


Đính kèm: Trích từ Phần IV Chương 2, Tài Liệu Nghiên Cứu Lý Luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quố cTế Mới, tái bản 2005))

III. THỬ ÐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP TOÀN CUỘC.
     
         Giải pháp chúng tôi đề nghị chỉ có cơ may thực hiện, nếu đến lúc này, các bên đang tranh chấp quyền lãnh đạo dân tộc thực tâm vì đất nước, vì dân tộc, tự tin và tin tưởng lẫn nhau và cùng đứng trên lập trường dân tộc để xem xét vấn đề và giải quyết vấn đề. Vì vậy trước khi đưa ra đề nghị vế tiến trình thực hiện và nội dung các bước thực hiện giải pháp toàn cuộc, một số nhận thức và quan điểm cần được các bên thừa nhận, thống nhất như những điều kiện tiên quyết có giá trị như những định đề khoa học.
   A. NHỮNG ÐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT:
      1) Các bên phải đặt quyền lợi Tổ Quốc lên trên hết và lợi ích dân tộc là tối thượng.
      2) Các bên cần ý thức rằng, không có ai thương người Việt Nam bằng chính người Viêt Nam; Và rằng biên giới quốc gia muôn đời, vẫn là cái giới hạn trong đó quyền lợi của các dân tộc sống chung cần được bảo vệ trên hết và trước hết.
      3) Các bên phải cùng đứng trên lập trường dân tộc, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa yêu nước, mới có thể tìm ra được con đường đúng nhất, có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam, phù hợp với ý nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, chứ không phải tham vọng của những người cầm quyền (dù với hảo ý).
      4) Các bên phải thống nhất quan điểm rằng, ý nguyện nhân dân, hạnh phúc đồng bào, đất nước phát triển toàn diện đến phú cường và văn minh tiến bộ ngang tầm cao thời đại, là cứu cánh chung phải thành đạt của bất cứ cá nhân hay tập thể nào muốn nắm quyền lãnh đạo dân tộc.
      5) Các bên phải cùng quan niệm rằng, mọi thể chế chính trị chỉ là khung cảnh, mọi chủ nghĩa chỉ là phương tiện để thực hiện cứu cánh. Mọi cá nhân hay tập đoàn lãnh đạo dân tộc chỉ là công cụ của nhân dân để đạt cứu cánh. Và do đó không thể biến cứu cánh thành phương tiện phục vụ cho mưu đồ, lợi ích cá nhân hay tập đoàn nào.
      6) Các bên phải cùng chấp nhận từ bỏ đường lối, chủ trương xây dựng chế độ chính trị cho đất nước trên nền tảng một ý thức hệ hay chủ nghĩa ngọai lai (nhất nguyên xã hội chủ nghĩa hay đa nguyên tư bản chủ nghĩa), để cùng đồng thuận xây dựng một chế độ dân chủ trên nền tảng “Nhất nguyên Dân Tộc”. Vì chỉ có đứng chung trên nền tảng này, mới chấm dứt được tình trạng phân hoá dân tộc, thống nhất được toàn lực quốc gia, để cùng đi đến tương lai tươi sáng cho dân tộc.
      7) Các bên phải chân thành thừa nhận lẫn nhau, từ quá khứ đến hiện tại, tất cả đều đã và đang hành động vì thiện chí và lòng yêu nước, vì tiền đồ dân tộc. Hành động đúng, sai, phải trái, hiệu quả tích cực hay hậu quả tiêu cực đối với đất nước và dân tộc của các bên là do chủ quan, khách quan hãy để cho lịch sử xét định sau này.
      8) Các bên phải thống nhất nhận thức rằng: không phải vì hận thù, mà vì bất đồng chính kiến đã tạo ra mâu thuẫn đối kháng trong lòng dân tộc, và là cản trở trên đường đi đến tương lai tươi sáng cho dân tộc. Và do đó, không cần nỗ lực xoá bỏ hận thù mà chỉ cần có được sự đồng thuận về một giải pháp khả thi, hữu hiệu để phá vỡ mâu thuẫn đối kháng này, hận thù sẽ tự khắc tiêu tan. Vì hận thù chỉ là cảm tính cá nhân, với thời gian năm tháng có thể phai mờ, hoặc vì lợi ích dân tộc có thể bỏ qua, song các sự kiện đưa đến hận thù là lý tính thuộc về lịch sử thì không thể nào quên, mà cần phải nhớ làm bài học kinh nghiệm cho thế hệ hiện tại cũng như tương lai.
      9) Các bên cần có chung nhận thức rằng, Việt Nam không có vấn đề “hoà giải và hoà hợp dân tộc” mà chỉ có vấn đề “hoá giải những mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”. Vì qua thực tế và lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn là một khối thống nhất, bất khả phân. Từ quá khứ đến hiện tại, nhân dân Việt Nam, sau những biến động thăng trầm của lịch sử, vẫn sống đoàn kết yêu thương gắn bó, trong tình ruột thịt, nghĩa đồng bào. Hiện tại, chỉ còn những mâu thuẫn trong hàng ngũ những người lãnh đạo dân tộc, bất đồng về một giải pháp hữu hiệu cho đất nước, cần được “hoá giải” càng sớm càng tốt cho tương lai dân tộc.
   B. TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG CÁC BƯỚC THỰC HIỆN GIẢI PHÁP.
      Giải pháp đề nghị được thực hiện qua ba giai đọan, xin được gọi là “Tiến trình ba bước đến nền dân chủ nhất nguyên dân tộc”.

* Bước một: Triệu tập “Hội Nghị Hoá Giải Mâu Thuẫn Về Lãnh Ðạo Dân Tộc”, (gọi tắt là Hội Nghị Hóa Giải).
   1. Thời gian diễn ra Hội Nghị: Từ 3 đến 6 ngày hay lâu hơn tùy nhu cầu, vào thời khỏang thuận tiện, càng sớm càng tốt. (2006 – 2007 chẳng hạn)
   2.  Nơi tổ chức Hội Nghị: Thành phố Ðà Lạt, thuộc Cao nguyên Trung phần Việt Nam hay nơi nào khác thuận lợi trên đất nước Việt Nam.
   3. Căn bản pháp lý của Hội Nghị: Quốc Hội đương nhiệm chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) triệu tập phiên họp khoáng đại bất thường, ra nghị quyết tổ chức HNHGMTVLÐDT. Nội dung nghị quyết nói rõ mục đích, trách nhiệm thực hiện, phương thức tổ chức và thành phần được mời tham dự  Hội Nghị.
      4. Thành phần tham dự Hội Nghị:
      Ðề nghị tất cả các nhân vật thuộc hàng ngũ lãnh đạo các chính đảng và nhà nước của hai chế độ đối nghịch trước 30 tháng 4 năm 1975 (1954 – 1975): Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở Miền Bắc và Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ở Miền Nam, mà nay còn sống.
    a) Ðối với chế độ VNDCCH:
   -  Ðối với đảng Lao Ðộng Việt Nam lúc đó (Tức đảng CSVN hiện nay), có tư cách tham dự Hội Nghị là các Tổng Bí Thư và các Ủy Viên Bộ Chính trị đảm nhiệm chức vụ trong khỏang 1954 – 1975.
   - Ðối với Nhà Nước, gồm những người từng giữ các chức vụ lãnh đạo nhà nước VNDCCH, là các Chủ Tịch và Phó Chủ tịch Nhà nước, Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch  Hội Ðồng Bộ Trưởng hay là Thủ Tướng và Phó Thủ Tướng, các Bộ trưởng trong nội các, Chủ tịch và  Phó Chủ Tịch Quốc Hội, các đại biểu quốc hội các khoá từ 1954 đến 1975, Các Chánh án và Phó chánh án Tịa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng và Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
    b) Ðối với chế độ VNCH:
   - Ðối với các chính đảng Quốc Gia từng sinh họat trên chính trường Miền Nam trước 30 tháng 4 năm 1975, mà nay vẫn tiếp tục họat động  ở hải ngọai cũng như trong nước hay không còn họat động (như: Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt Cách Mạng Ðảng, Dân xã Ðảng, Ðảng Cần Lao, Ðảng Dân Chủ...) Có tư cách tham dự hội nghị là các Chủ tịch, Phó Chủ tịch các đảng với các Thành Viên Ban Chấp Hành Trung Ương trong các nhiệm kỳ ở thời khỏang 1954-1975.
   - Ðối với các lãnh đạo chế độ VNCH, cĩ tư cách tham dự Hội Nghị, là những người từng giữ chức vụ lãnh đạo hành pháp như: Tổng Thống và Phĩ Tổng, Thủ Tướng và Phĩ Thủ Tướng, các Tổng, Bộ Trưởng thuộc nội các chính phủ hai nền Ðệ nhất và Ðệ nhị VNCH (1954 – 1975); Lập pháp: là Chủ tịch và Phĩ chủ tịch của Thượng viện và Hạ viện, các nghị sĩ dân biểu từ Ðệ nhất đến Ðệ Nhị VNCH; Chủ tịch và Phĩ Chủ tịch Viện Bảo Hiến, Chủ tịch và Phĩ Chủ tịch Tối cao Pháp Viện và các Thẩm phán Tối cao Pháp Viện.
      Các thành viên tham gia Hội Nghị không mang tính đại diện mà mang tính cá nhân có trách nhiệm giải quyết những vướng mắc quá khứ, trong giai đọan  lịch sử  do họ thuộc thành phần lãnh đạo dân tộc.
      5. Nội Dung Nghị Trình:
      Các thành viên tham dự Hội Nghị cùng:
    - Nhận thức lại cuộc chiến hơm qua, trong tương quan giữa các bên tham chiến Việt Nam và các thế lực khuynh đảo quốc tế, để thấy được thực chất, ý nghĩa của cuộc chiến và những hậu quả nghiêm trọng, nhiều mặt đối với đất nước và dân tộc, để đi đến kết luận: Kẻ thắng cuộc chiến là các cường quốc đế quốc, kẻ bại và thua thiệt là dân tộc Việt Nam. Trách nhiệm các bên người Việt Nam tham gia cuộc chiến trước lịch sử, hãy để lịch sử mai nay phán quyết công minh.
   - Nhận định đúng đắn và khách quan về thực trạng đất nước, thảo luận và đề ra phương hướng và phương thức giải quyết những tồn tại quá khứ và những khĩ khăn hiện tại đã cản đường đi đến địan kết và thống nhất dân tộc hay đã làm chậm bước tiến đến tương lai tươi sáng cho dân tộc.
   - Hội nghị kết thúc bằng một “Thơng Cáo Chung” công bố diễn tiến và kết quả Hội Nghị và Nghị Quyết yêu cầu quốc hội đương nhiệm cho triệu tập một “Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”(gọi tắt là Hội Nghị Thống Nhất). Nội dung nghị quyết này cần ghi rõ mục đích, nội dung nghị trình, thành phần tham dự, cách thức tiến hành Hội Nghị Thống Nhất. Ðồng thời đề nghị Quốc Hội tiến hành việc sửa đổi một số điều khỏan Hiến Pháp hiện hành,vốn là những trở ngại pháp lý cho sự đoàn kết, thống nhất dân tộc, tạo điều kiện pháp lý cũng như thực tiễn thuận lợi cho sự thành công của Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia.
   
      Tựu chung kết quả Hội Nghị, những người trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc hôm qua phải làm sao “hoá giải được các mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”, mở đường cho thế hệ lãnh đạo dân tộc hiện tại cũng như tương lai. Thông cáo chung và các Nghị quyết được công bố và gửi đến Quốc Hội đương nhiệm như một khuyến cáo lịch sử của tập thể thành phần lãnh đạo dân tộc trong cuộc chiến và trong hai chế độ đối nghịch hôm qua (1954 – 1975).
      6. Tổ chức và chi phí cho Hội Nghị Hoá Giải:
      - Căn cứ trên nghị quyết tổ chức Hội Nghị Hoá Giải của Quốc Hội đương nhiệm, Chủ tịch Nhà Nước đương nhiệm ký Thư Mời gửi đến các thành viên có tư cách tham dự Hội Nghị. Thủ Tướng Chính Phủ đương quyền chịu trách nhiệm tổ chức Hội Nghị. Việc chủ tọa và điều hành các phiên họp trong suốt thời gian hội nghị sẽ do các thành viên Chủ tọa đoàn đảm nhiệm. Chủ Tọa Ðoàn có thể từ 3 đến 9 người do Hội Nghị Hóa Giải bầu ra.
   - Hội Nghị Hoá Giải có thể thỏa thuận chung về hình thức họp kín hay công khai, có  hay không có sự tham dự của các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước và các quan sát viên quốc tế.
   - Chi phí tổ chức, điều hành, ăn ở, di chuyển của các thành viên tham gia hội nghi. . . tất cả đều do ngân sách quốc gia đài thọ.
       Ðể tạo bầu không khí thuận lợi cho các bên tin tưởng vào thực tâm và thiện chí của nhau, là muốn “hóa giải các mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”, sau khi đạt giấy mời và trước khi khai mạc Hội Nghị, Chủ tịch Nhà nước đương nhiệm sẽ ra quyết định trả tự do vô điều kiện cho tất cả các tù nhân chính trị đang bị giam cầm. Quyết định này là để tạo thế đoàn kết dân tộc và tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành công của Hội Nghị Hóa Giải. Và do đó, Quyết định này khơng phải là một lệnh ân xá tập thể, vì những người bị bắt giữ vì lý do chính trị không phải và không thể bị coi là tội nhân. Ngay đợt đầu thả các nhân vật bất đồng chính kiến đã được công luận quan tâm như Bs. Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Ls. Lê Chí Quang.v.v. . .
      Ðối lại, để tỏ thiện chí, trước và trong khi diễn ra Hội Nghị, các tổ chức, lực lượng đấu tranh chống chế độ đương quyền trong cũng như ngoài nước, sẽ tạm đình chỉ mọi hình thức đấu tranh chống chế độ đương thời Việt Nam. Nhưng có thể tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình để khích lệ, tạo áp lực cho các bên tham gia Hội Nghị cố gắng vượt qua mọi bất đồng để thành đạt cho được mục đích “Hóa giải mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”, đáp ứng đúng ý nguyện của toàn dân.
      Mặt khác, để chuẩn bị tham gia Hội Nghị Hóa Giải tích cực và hiệu quả, mỗi bên cần chuẩn bị triệu tập phiên họp tiền Hội Nghị riêng biệt, để sắp xếp nhân sự, bàn bạc, thống nhất  trước những công việc sẽ cùng làm trong Hội Nghị sao cho thành đạt được mục đích “hóa giải  mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”. Ðồng thời, để có căn cứ bàn bạc, Ban Tổ Chức Hội Nghị Hóa Giải (Chính phủ đương thời) cần gửi nghị trình chi tiết của Hội Nghị Hóa Giải đến các thành viên được mời trước ngày khai mạc ít nhất hai tháng.
      Sau khi bế mạc, “Hội Nghị Hóa Giải Mâu Thuẫn Về Lãnh Ðạo Dân Tộc” sẽ chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.
 
* Bước Hai: Hội Nghị Thống Nhất Tịan Lực Quốc Gia (gọi tắt là Hội Nghị ThốngNhất)
      1. Thời Gian: Tổ chức từ 1 tuần đến 1 tháng hay lâu hơn tùy nhu cầu, vào thời khỏang 2008-2009, chiếu  đề nghị của Hội Nghị Hòa Giải, Quốc Hội đương nhiệm biểu quyết thông qua.
      2. Nơi tổ chức Hội Nghị Thống Nhất: Cố đô Huế hay một thành phố miền biển thuộc Trung phần Việt Nam, do  Hội Nghị Hóa Giải đề nghị, Quốc Hội đương nhiệm thông qua.
      3. Thành phần tham dự: các bên sẽ đề cử ra một số đại diện tương đương, theo đề nghị của Hội Nghị Hóa Giải đã được Quốc Hội đương nhiệm thông qua (tỉ dụ mỗi bên 90 người chẳng hạn)
    - Về phía chế độ đương quyền, gồm đại biểu đảng cầm quyền do đảng CSVN cử ra  trong số các chức vị thuộc hàng Trung Ương Ðảng đương nhiệm theo thứ tự từ cao nhất đi xuống (như Tổng Bí Thư, các Ủy viên Bộ Chính Trị, Ủy viên Trung ương đảng) và Nhà Nước CHXHCNVN cử ra trong số các chức vị trung ương đương nhiệm trong ba ngành, lập pháp, hành pháp và tư pháp, cũng theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới (như Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc Hội và các Ðại Biểu Quốc Hội ;Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước, trừ Thủ Tướng (làm nhiệm vụ tổ chức), các Phó Thủ Tướng, các Bộ Trưởng; Chánh án, Phó Chánh án Toà án Nhân Dân Tối Cao; Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao...).
       Ðể chứng tỏ thực tâm, các chức vị hàng đầu đang nắm thực quyền trong đảng CSVN và Nhà nước CHXHCNVN cần phải tham dự  đầy đủ trong Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, không nên chọn cử những cấp dưới dễ gây ý nghĩ  bị coi thường và trịch thượng trong các thành viên đối lập với chế độ tham dự hội nghị.
  - Về phía thành viên không cộng sản ngoài chính quyền, cũng gồm đại biểu được cử ra sau một Hội Nghị Trù Bị của các lực lượng Quốc Gia Dân Tộc Dân Chủ, trong số các chức vụ thuộc hàng Trung ương của các chính đảng, các tổ chức chính trị, các Giáo Hội trong cũng như ngoài nước, đã thành lập và sinh họat từ trước ngày khai mạc Hội Nghị Hoá Giải ít nhất 3 năm; hàng lãnh đạo các tổ chức Cộng Ðồng Người Việt hải ngọai đương nhiệm.
      4. Nghị trình:
      Ðể đạt được mục đích “thống  nhất toàn lực quốc gia”, căn cứ trên bản “Thông cáo chung” và “Các nghị quyết” của Hội nghị Hóa giải, Hội Nghị Thống nhất sẽ thảo luận và biểu quyết thông qua:
   - Ðề nghị Dự thảo luật bầu cử “Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”, để sau đó chuyển đến Quốc Hội đương nhiệm thảo luận và biểu quyết thông qua.
   - Hội Nghị kết thúc bằng một Thông Cáo Chung và các nghị quyết  liên quan đến các vấn đề đã thảo luận trong nghị trình, như  đề nghị “Dư thảo luật bầu cử Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”, Nghị quyết yêu cầu sửa đổi hay hủy bỏ hiến pháp hiện hành, tổ chức bầu cử “Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”(Gọi tắt là Quốc Hội Thống nhất) theo luật bầu cử mới đã được Quốc Hội đương nhiệm thông qua trước khi chấm dứt nhiệm kỳ theo Hiến Pháp hiện hành (Ðiều 85) . . .
      5. Tổ chức và chi phí Hội Nghị:
     - Căn cứ trên bản “Thông Cáo Chung” và các nghị quyết của Hội Nghị Hóa Giải, Quốc Hội ra quyết nghị tổ chức Hội Nghị Thống Nhất , Chủ tịch nước ban hành, giao trách nhiệm tổ chức  Hội Nghị Thống Nhất cho Thủ Tướng chính phủ.
   - Chủ tịch nhà nước đạt giấy mời đến các thành viên tham dự Hội Nghị Thống Nhất. Thủ Tướng chánh phủ chịu trách nhiệm tổ chức Hội Nghị Thống Nhất. Ðiều hành các phiên họp trong suốt thời gian tiến hành hội nghị bởi một Chủ Tọa Ðoàn gồm 9 người được cử ra trong phiên họp đầu tiên của Hội Nghi Thống Nhất, trong số những người có chức vụ cao nhất của hai bên tham dự Hội Nghị Thống Nhất. (Ðề nghị phía chế độ đương quyền 4, phía ngoài chính quyền 5 gồm 1 đại diện tôn giáo + 4 đại diện các thành phần khác).
   - Về chi phí tổ chức, điều hành, di chuyển, ăn ở cho các thành viên tham gia Hội Nghị Thống nhất sẽ do ngân sách quốc gia đài thọ. (Chi phí cho các phiên họp trù bị riêng mỗi bên tự lo liệu).
* ÐỀ NGHỊ:
      Ðể tạo thuận lợi và bảo đảm sự thành công của Hội Nghị Thống Nhất, và cũng là để chứng tỏ thiện chí và thực tâm của các bên muốn vượt qua mọi cản trở chủ quan cũng như khách quan để kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho đất nước, ngay sau khi Hội Nghị Hóa Giải kết thúc và trước khi Hội Nghị Thống Nhất khai mạc, về phía chế độ đương quyền Việt Nam cần chủ động thực hiện một số động tác sau đây:
      - Quốc Hội đương nhiệm sẽ lên nghị trình thảo luận và biểu quyết hủy bỏ hay sửa đổi các điều khỏan trong hiến pháp hiện hành, từng là cản trở sự đoàn kết, thống nhất các lực lượng lãnh đạo dân tộc về mặt pháp lý chính trị.(tỉ như Ðiều 4 Hiến Pháp) và thu hồi các luật lệ liên quan đến việc hạn chế hay tước đọat các quyền tự do, dân chủ, dân sinh (tỉ như nghị định 69/HÐBT – 1991 qui định về sinh họat tôn giáo hay Pháp lệnh về tơn giáo 21/1004/PL-UBTVQH.11…).
      Trong khi đó, các tù nhân chính trị tiếp tục được trả tự do cho đến người cuối cùng, các yêu cầu chính đáng của các tôn giáo được giải quyết thỏa đáng trên thực tế (Vấn đề tổ chức, đào tạo chức sắc tôn giáo, hành đạo và truyền đạo của các Giáo Hội và các tín đồ . . .  được tự do, không bị ngăn cản, quấy nhiễu).
      Ðối với các chính đảng, các tổ chức, lực lượng đối lập với chế độ, trong thời gian này, các cuộc đấu tranh chống chế độ đương quyền trong cũng như ngoài nước dưới mọi hình thức, tiếp tục đình chỉ. Nếu có các cuộc mít tinh, biểu tình là nhằm mục đích thúc đẩy cho Hội Nghị Thống Nhất thành công tốt đẹp.

   * Bước Ba: Hình Thành Chế Ðộ Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc.
      1. Thời gian: hình thành chế độ “Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc” dự kiến trong thời khỏang 2009 – 2010.
      2. Tiến trình:
      a) Chiếu theo yêu cầu của  các bản Thông Cáo Chung và các Nghị Quyết của “Hội Nghi Hoá Giải Mâu Thuẫn Về Lãnh Ðạo Dân Tộc” và “Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”, Quốc Hội đương nhiệm  sẽ thảo luận và biểu quyết thông qua “Dự Thảo Luật Bầu Cử Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Dân Tộc” do Hội Nghị Thống Nhất đề nghị.
      b) Chiếu thủ tục lập pháp hiện hành, Chủ tịch Nhà Nước đương  thời ban hành “Luật Bầu Cử Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”, chính quyền các cấp có nhiệm vụ thực hiện nghiêm chỉnh Luật Bầu Cử trong một cuộc bầu cử tự do để bầu ra một “Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”. Ðể bảo đảm sự ổn định chính trị, cuộc bầu cử này cần diễn ra hai tháng trước ngày mãn nhiệm kỳ 5 năm của quốc hội đương nhiệm (Ðiều 85 Hiến pháp CHXHCNVN 1992).Ðại diện các chính đảng và cá nhân  đều có quyền úng cử theo “Luật Bầu Cử Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”. Quốc tế đóng vai trị giám sát hay quan sát viên trong cuộc bầu cử Quốc Hội Thống Nhất này là tùy theo thỏa thuận đi đến quyết định chung của Hội Nghị Thống Nhất.
      c) Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia hình thành sau cuộc bầu cử tự do, sẽ thay thế, kế tục, nhận sự bàn giao nhiệm vụ từ Quốc Hội đương nhiệm vừa mãn nhiệm. Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia này sẽ làm hai nhiệm vụ: tiếp tục tu chính hay trưng cầu dân ý để hủy bỏ hiến pháp hiện hành, sọan thảo bản tân hiến pháp dân chủ trên nền tảng nhất nguyên dân tộc. Ðồng thời làm nhiệm vụ của một quốc hội lập pháp cho đến hết nhiệm kỳ.
      * Chế độ dân chủ nhất nguyên dân tộc, là chế độ dân chủ xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa  dân tộc tiến bộ Việt Nam (khác với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hò) và chủ nghĩa ái quốc, với quan niệm: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
      - Dân tộc chủ nghĩa, coi lợi ích các dân tộc cùng sống chung trên mảnh giang sơn gấm vóc Việt Nam hình chữ S, và cùng chung dòng lịch sử, là tối thượng. Với lịch sử hơn 4000 năm tranh đấu dựng nước và giữ nước của tiền nhân, là cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động, là điểm hội tụ và là cái nguyên duy nhất đúng của tất cả con người, thuộc mọi sắc tộc sống trên đất nước Việt Nam. Từ cái nguyên chung này, chúng ta, các dân tộc dù đông người hay ít người, đều có quyền lợi và cuộc sống bao đời gắn bó, nên dễ dàng  đoàn kết, thống nhất được toàn lực quốc gia. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất này, chúng ta có thể làm được tất cả những gì tốt đẹp cho đất nước. Chúng ta sẽ  vận dụng mọi phương cách thích dụng, tối ưu, bất kể phương cách ấy rút ra từ một triết thuyết hay kinh nghiệm thực tiễn nào, miễn có hiệu quả thực tiễn, đem lại lợi ích thiết thực cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
      - Ái quốc chủ nghĩa, xuất phát từ “Nhất Nguyên Dân Tộc”, do cùng chung những bước thăng trầm của lịch sử dựng nước và giữ nước, cùng thụ hưởng quyền lợi và chia xẻ trách nhiệm, sẽ là ánh sáng soi đường và là động lực đấu tranh sinh tồn dân tộc và phát triển toàn diện đất nước, đối với bất cứ người Việt Nam yêu nước nào.
     - “ Dân vi quý, Xã tắc thứ chi, Quân vi khinh” là một quan niệm dân chủ Ðông Phương đã thấm nhuần từ lâu vào tâm thức người Việt Nam, thể hiện mối quan hệ đúng đắn, quân bình và công bình giữa ba thực thể xã hội: Nhân dân – Xã Hội – Chính quyền. Trong đó Dân là đầu, là gốc, là quý trọng hơn hết. Xã hội là môi trường sống và sinh họat của nhân dân. Quân là Vua, là nhà cầm quyền thì coi nhẹ. Là vì, chính nhân dân mới là chủ thể của xã hội, là đối tượng phục vụ của chính quyền. Chính nhân dân tạo dựng xã hội làm môi trường sống có tổ chức, an toàn và thuận lợi để mọi người sống trong môi trường xã hội ấy có  điều kiện đồng đều mưu cầu hạnh phúc cá nhân, gia đình và tập thể. Nhưng vì nhân dân sống trong xã hội, tất cả không thể trực tiếp điều hành xã hội rộng lớn, phức tạp, nên đã đẻ ra chính quyền qua năng quyền ủy thác cho những người đại diện (dân cử) để làm công việc quản lý xã hội, cai trị đất nước, ăn lương của dân, làm việc cho dân. Và do đó, quan niệm “Dân vi quý, Xã tắc thứ chi, Quân vi khinh” cần được thể hiện trong chế độ “Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc”, với quyền làm chủ thực sự là của nhân dân, quyền quản lý xã hội giao cho chính quyền, tất cả  hành sử quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật pháp (Dân chủ pháp trị)
      d) Căn cứ trên bản Hiến Pháp Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc, các cơ cấu quốc gia, guồng máy công quyền, nhân sự  lãnh đạo quốc gia và điều hành guồng máy công quyền, từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, sẽ từng bước điều chỉnh, kiện toàn theo một tốc độ phù hợp, an toàn, ổn định.
      Sau khi hoàn thành chế độ Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc trên cả hai mặt pháp lý (Hiến pháp, luật pháp dân chủ) và thực tiễn (Cơ cấu quốc gia, guồng máy công quyền dân chủ), hiển nhiên mọi người Việt Nam, không phân biệt sắc tộc, chính kiến, tôn giáo và giai tầng xã hội, đều có quyền tự do ứng cử và bầu cử các chức vụ công quyền theo luật bầu cử. Mọi tài năng dân tộc trong cũng như ngoài nước, trên mọi lãnh vực sẽ hội tụ để cùng gánh vác, chung xây nước non nhà, đưa đât nước phát triển toàn diện đến một tương lai huy hoàng cho dân tộc.

   C. VAI TRÒ QUỐC TẾ TRONG GIẢI PHÁP TÒAN
        CUỘC.
      Vì giải pháp chúng tôi thử đề nghị dựa trên nền tảng chủ yếu là tình tự dân tộc, thể hiện qua sự tự tin và tin tưởng  lẫn nhau của mỗi bên và giữa các bên đang tranh chấp quyền lãnh đạo dân tộc; cho nên chúng tôi muốn coi nhẹ vài trò của quốc tế trong việc thực hiện giải pháp toàn cuộc này.
      Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hiện nay, với sức khuynh đảo khá mạnh cuả các thế lực quốc tế, và trong một thực tại đất nước còn lắm hoài nghi  giữa các lực lượng lãnh đạo dân tộc, chúng ta thật khó mà lọai trừ vai trò trọng tài quốc tế trong đề nghị giải pháp toàn cuộc cho tương lai Việt Nam.  Vì vậy, quốc tế có thể và cần được mời đóng các vai trò sau đây:
   1. Quan sát hoặc giám sát quá trình thực hiện ba bước của giải pháp toàn cuộc, hoặc chỉ giám sát trong buớc có cuộc bầu cử Quốc Hội Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia.
   2. Kêu gọi sự đóng góp tài chánh quốc tế, để chi phí cho việc thực hiện giải pháp toàn cuộc, vì lợi ích tạo sự ổn định và phát triển cho Việt Nam, cũng nằm trong yêu cầu thiết lập một nền trật tự quốc tế mới của các cực cường. Ðồng thời, yêu cầu quốc tế gia tăng viện trợ nhiều mặt, để tài trợ cho các biện pháp thành tựu được nhằm nhằm vượt qua những khó khăn còn tồn tại trong nội bộ Việt Nam (Chẳng hạn vấn đề tài sản của các cá nhân hay pháp nhân đang bị chiếm dụng hay quốc hữu hoáa không được bồi thường, vấn về chế độ đãi ngộ thương binh, gia đình tử sĩ giải quyết thống nhất cho các bên tham chiến trước đây, vấn đề tái xử dụng tướng lãnh, sĩ quan QLVNCH và công chức VNCH còn đủ điều kiện tại ngũ hay năng lực phục vụ; và vấn đề thống nhất hưu bổng cho quân nhân, công chức từng phục vụ trong hai chế độ đối nghịch quá khứ; vấn đề tu bổ, cải táng tại các nghĩa trang tử sĩ trên cả hai chiến tuyến.v.v. . . Tất cả thống nhất trong một chính sách đãi ngộ chung).

       * Tóm lại: Giải pháp Toàn cuộc mà chúng tôi đề nghị 10 năm trước đây (1995), đã manh nha từ gần 30 năm trước (1977 -2005), được trình bầy trong lần ấn hành đầu tiên và nay được nhắc lại trong lần tái bản cuốn sách này, với một số chi tiết điều chỉnh cho thích hợp thời gian và luận lý (2005).
      Trong ba bước đi căn bản của tiến trình vẫn luôn dành quyền chủ động thực hiện cho những người cộng sản Việt Nam đang nắm quyền, để cho thấy giải pháp đã thể hiện tính thực tế, khách quan và hợp tình hợp lý. Giải pháp này cũng thừa nhận thế hợp pháp của chế độ và chính quyền đương thời trong tiến trình chuyển hóa qua chế độ “Dân chủ Nhất Nguyên Dân Tộc” một cách hợp pháp và ổn định, để mong thành đạt một chế độ và chính quyền dân chủ tương lai có được đủ hai yếu tính tính hợp pháp và chính đáng trước toàn dân.
      Trong khi đó, về phía những người Việt Nam quốc gia hay là những người Việt Nam không cộng sản, thì qua giải pháp toàn cuộc này, có thể thành đạt được mục tiêu và lý tưởng đấu tranh bao lâu nay: Thiết lập cho được một chế độ dân chủ đích thực, đó là chế độ dân chủ xây dựng trên nền tảng nhất nguyên dân tộc. Bởi vì, mục tiên tranh đấu bao lâu nay của những người Việt Nam không cộng sản, chủ yếu không phải giành chính quyền, mà là hiện thực cho được một chế độ dân chủ, tự do cho toàn dân Việt và làm sao phát triển toàn diện đất nước đến phú cường và văn minh tiến bộ ngang tầm cao thời đại.
      Tất nhiên, đối với các chính đảng quốc gia, các tổ chức hay lực lượng chính trị nào trong hàng ngũ quốc gia, dân tộc, dân chủ có mục tiêu và năng lực nắm chính quyền để thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình, thì qua giải pháp toàn cuộc này, nếu thực hiện được, họ đã có cơ hội giành được chính quyền bằng phương thức dân chủ, trong một cuộc tranh cử tự do.
      Tuy nhiên, suy cho cùng, giải pháp toàn cuộc mà chúng tôi đề nghị, cũng như bất cứ giải pháp nào khác dù hợp tình, hợp lý và khả thi cách mấy, vẫn chỉ có thể hiện thực, nếu những người cộng sản Việt Nam đang nắm quyền lãnh đạo dân tộc thực tâm muốn “hoà giải và đoàn kết dân tộc”, không phải để tiếp tục củng cố chế độ độc tài, độc tôn và độc quyền thống tri của đảng CSVN, mà để cùng mọi khuynh hướng chính trị, thống nhất trên nền tảng “Nhất nguyên dân tộc” để cùng xây dựng một đất nước dân chủ.
      Nói gắn gọn, là đảng CSVN đang nắm quyền có thực tâm đi theo con đường dân chủ hóa đất nước hay không. Ðó mới là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho mọi giải pháp đưa đến “hoà giải và thống nhất dân tộc”. Lý do đơn giản là vì  không thể có sự hoà giải và thống nhất khi các bên không có chỗ đứng chung (lập trường dân tộc) và cùng nhìn về một hướng (Tự do Dân chủ).
      Vậy thì, nếu có thực tâm và để thể hiện thực tâm này, đảng CSVN và chính quyền CSVN đương thời phải là kẻ chủ động đi bước trước, với những hành động cụ thể khả tín, để những người Việt Nam không cộng sản tin được. Bởi vì sự hoài nghi quá đáng của người Việt Nam không cộng sản, thực tế đã do chính những người CSVN trong quá khứ, đã có quá nhiều hành động thất tín đối với họ và cả với nhân dân nữa. Nay cũng cần những hành động thực tế của những người CSVN thì mới hoá giải được mọi hoài nghi.
      Tựu chung, chúng tôi hy vọng và tin tưởng, nếu tất cả các bên đã và đang tranh chấp quyền lãnh đạo dân tộc, đều thực tâm vì đất nước, vì dân tộc, với một lòng yêu nước thực sự, thì giải pháp toàn cuộc mà chúng tôi đề nghị có cơ may thành tựu. Bởi vì, điều này  phù hợp  với ước muốn chung của bất cứ người Việt Nam yêu nước nào ở trong cũng như ngịai nước, bất kể nguồn gốc, chính kiến; đáp ứng được ý nguyện thiết tha của toàn dân Việt Nam, và đi đúng với chiếu hướng quốc tế mới không thể  đảo ngược: Dân chủ hoa toàn cầu, với các nhân quyền, dân quyền cơ bản phải được các chế độ độc tài, dưới mọi hình thức, hoàn trả đầy đủ cho mọi người dân và cho mọi dân tộc trên hành tinh này.
      Tất cả tương lai tốt đẹp cho dân tộc, đang chờ đợi hành động cụ thể chứng tỏ lòng yêu nước thương dân thật hay giả của các nhà lãnh đạo dân tộc hôm qua, hôm nay và ngày mai của tất cả các bên, cộng sản Việt Nam cũng như không cộng sản Việt Nam.
     
                                 THIỆN Ý
    Viết xong tại Houston, ngày 18 tháng 2 năm 1995
     Viết lại tại Houston, ngày 9 tháng 9 năm 2005
               Hiệu đính lại ngày 9 tháng 4 năm 2011