40 năm nhìn lại:
VIỆT QUỐC CHỐNG CỘNG VÌ TỰ DO DÂN CHỦ CHO
ĐẤT NƯỚC :THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?
Thiện Ý
*
* * * * *
Trong khuôn khổ một bài nhận định tổng
quát, chúng tôi chỉ xin đưa ra nhận định đại cươngvề 40 năm Việt quốc chống
cộng vì tự do dân chủ cho đất nước, với thành quả ra sao, triển vọng tương lai
thế nào. Chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết hơn trong tập tài liệu nghiên cứu lý
luận “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc-
Cộng tại Việt Nam”, trong đó chúng tôi đã chia cuộc nội chiến này thành ba
giai đoạn:
1.-
Tiền Chiến Tranh Quốc - Cộng (1930-1954)
2.-
Cuộc Chiến Tranh Quốc - Cộng (1954-1975)
3.-
Hậu Chiến Tranh Quốc - Cộng (1975- kết
thúc)
Như vậy là chúng ta, những người Việt quốc
gia hay là người Việt Nam không cộng sản đang ở vào giai đoạn thứ ba và cũng là
giai đoạn cuối cùng của cuộc “Nội Chiến
Ý Thức Hệ Quốc-Cộng Tại Việt Nam”. Giai đoạn này khởi sự từ sau ngày
30-4-1975, khi cuộc Chiến Tranh Quốc – Cộng kết thúc với sự thua cuộc của phe
Việt Quốc (bao
gồm các chính quyền, các chính đảng quốc gia và quần chúng nhân dân có ý thức
và hành động chống cộng) và sự
thắng cuộc của phe Việt Cộng (bao gồm đảng Cộng Sản Việt Nam, các chính quyền và quần chúng
nhân dân có ý thức và hành động ủng hộ cộng sản).
Tuy nhiên Việt Quốc vẫn không chấp
nhận sự thua cuộc này và vẫn không thừa
nhận sự thắng cuộc của đối phương Việt Cộng.
Không chấp nhận sự thua cuộc vì:
-
Trái với luận lý thông thường, phe chính nghĩa Việt
quốc (Chính
nghĩa Quốc gia: Việt Nam Cộng Hòa chính thống, chính đáng, chính danh, dân chủ,
…) đúng ra phải tất thắng phe ngụy nghĩa Việt cộng (Ngụy nghĩa Cộng
sản, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngụy danh, không chính thống, không chính đáng
,phản dân tộc, độc tài đảng trị, phản dân chủ…).
-
Thực tế so sánh
tương quan lưc lượng quân sự, kinh tế Việt Quốc ở Miền Nam mạnh hơn nhiều so với Việt Cộng
ở Miền Bắc,lại là phe chính nghĩa, nên không thể thua cuộc và phải là phe thắng cuộc mới đúng.
Không
thừa nhận sự thắng cuộc của đối phương:
-
Vì Việt quốc chỉ
coi chiến thắng của đối phương Việt cộng là “Chiến thắng giả tạo”(Chiến thắng biểu
kiến) do các thế lực khuynh
đảo quốc tế sắp đặt và sự thua cuộc của mình chỉ là vì bị đồng minh phản bội,
cấu kết với đối phương, gài thế cờ bí cưỡng tử chính quyền chính thống quốc gia
Việt Nam Cộng Hòa.
-
Vì các nhà lãnh
đạo chính trị cũng như quân sự của chính quyền Việt quốc đã hạn chế về năng lực
lãnh đạo, chỉ huy, quá lệ thuộc sách lược chống cộng của Hoa Kỳ(đúng ra là không tạo ra được sách lược chống
cộng riêng), nên mất chủ quyền, không chủ động và sự yếu kém trong việc
hoạch định và thực hiện chiến lược chống cộng toàn diện để thắng Việt cộng.Và
vì tính nhân đạo hữu thần, Việt quốc không thể và không dám thực hiện những chủ
trương, chính sách, biện pháp tiêu diệt đối phương triệt để, tàn bạo, vô nhân
đạo như Việt cộng đã làm.
Và vì vậy, Việt
quốc vẫn không bỏ cuộc,tiếp tục chống cộng giai đoạn ba, mặc dầu
trong điều kiện đấu tranh không cân sức so với đối phương Việt cộng, không
thuận lợi và gặp nhiều khó khăn chủ quan cũng như khách quan, song vẫn chống
cộng vì tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia, theo luận lý thông
thường “chân lý
tất thắng phi lý”, “Chính nghĩa tất thắng ngụy
nghĩa”.
Như
vậy, sự lựa chọn của Việt quốc tiếp tục chống cộng sau chiến tranh, với niềm
tin tất thắng của chính nghĩa quốc có chủ quan,duy ý chí, phiêu lưu, thiếu thực
tế không?
Việt quốc có thể trả lời ngắn gọn một
cách khẳng định, rằng sự lựa chọn tiếp tục chống cộng, với niềm tin tất thắng
của chính nghĩa quốc gia là không chủ quan, không duy ý chí, không phiêu lưu, là có căn cứ thực tiễn, phù
hợp với chiều hướng của thế chiến lược quốc tế mới, đáp ứng đúng ý nguyện của
toàn thể Quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, nên đã và đang được thực
tế ngày một khẳng định chân lý thuộc về ai, quốc dân và quốc tế ủng hộ ai,
chống ai, để cuối cùng “Chính Quốc” tất phải thắng “Tà
Cộng”. Đây không phải chỉ là lý luận của niềm tin mà còn là một
thực tế chắc chắn sớm muộn phải được thể hiện. Vấn để chỉ còn là: Việt quốc sẽ phải thắng
Việt cộng như thế nào và bằng cách nào? Và sau đó Việt quốc phải làm gì tốt hơn
Việt cộng.
Nội dung bài viết này lần lượt trình
bầy:
I/-
Lý do chống cộng, động lực chống cộng và
mục tiêu tối hậu phải thành đạt là gì?
II/-Việt
quốc đã chống cộng thế nào trong 40 năm qua và hiệu quả ra sao?
III/-
Thành quả và Triển vọng tương lai.
*
KẾT LUẬN.
I/- LÝ DO CHỐNG CỘNG, ĐỘNG LỰC
CHỐNG CỘNG, VÀ MỤC TIÊU TỐI HẬU PHẢI THÀNH ĐẠT LÀ GÌ?
1.- Lý do Việt quốc chống cộng?
Trước khi trả lời câu hỏi “Vì sao Việt quốc
chống cộng”, cần xác định “Việt quốc” là ai, để
để phân định rõ lằn ranh trong trận tuyến chống cộng vì tự do, dân chủ cho Đất
nước.
Việt quốc bao gồm các chính quyền, các chính đảng quốc gia và quần
chúng nhân dân có ý thức và hành động chống cộng. Nói cách khác Việt Quốc là những người Việt Nam không cộng sản,
theo “ý thức hệ quốc gia”, tôn thờ Tổ
Quốc Việt Nam, coi quyền lợi dân tộc Việt Nam là tối thượng, kế thừa sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của lịch sử Việt Nam, khởi đi từ Thời Hồng Bàng với các
Vua Hùng dựng nước Văn Lang (tên cổ xưa
của Việt Nam), qua các triều đại độc lập tự chủ do các vua chúa Việt Nam
cai trị đất nước(Đinh, Lê, Lý, Trần. .
.) hay những thời kỳ dài ngắn bị ngọai bang xâm chiếm đô hộ ( 1000 năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc),
với các anh hùng hào kiệt đã lãnh đạo nhân dân chống ngọai xâm, giành và giữ
độc lập, tự chủ cho dân tộc, viết nên những trang sử oai hùng và vẻ vang cho
dân tộc Việt (Như Ngô Quyền, Hai Bà
Trưng,Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt , Quang Trung, Phan đình Phùng,
Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn
Thái Học. . . .)
Việt cộng bao gồm đảng Cộng Sản Việt
Nam CSVN), các chính quyền và quần chúng nhân dân có ý thức và hành động ủng hộ
cộng sản Nói cách khác,
Việt cộng là những người Việt Nam, theo Ý thức hệ cộng sản, tôn thờ “Tổ quốc Xã Hội Chủ
Nghĩa” (Liên Xô), coi lợi ích quốc tế cộng sản (vô sản) là tối thượng, kế thừa thành
quả đấu tranh giai cấp và tiếp tục thực hiện “Chiến tranh cách mạng vô sản” để mở mang bờ cõi cho các tân đế
quốc đỏ Nga-Tầu, cộng sản hóa Việt Nam cũng như toàn cầu, tách khỏi và chống
lại dòng chính lịch sử dân tộc, xóa bỏ ranh giới quốc gia để hội nhập vào một “Thế giới đại đồng” (cộng sản chủ nghĩa)….
Sau
khi xác định “Việt quốc” và “Việt cộng” như
thế, chúng ta có thể minh bạch trả lời cho câu hỏi: Vì sao Việt quốc chống cộng?
Việt quốc chống cộng, vì:
1.- Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa cộng
sản dù có là một lý tưởng cao đẹp có tính mê hoặc lòng người, nhất là những
người trẻ tuổi vốn say mê lý tưởng vào đời, nhưng không tưởng theo nghĩa một lý
tưởng không thể thực hiện được. Vì vậy, những cá nhân (đảng
viên cộng sản) hay tập đoàn (đảng cộng
sản) ở bất cứ quốc gia nào, khi vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào
thực tiễn đã chỉ là tai họa thảm khốc, phá hủy mọi nền tảng đạo đức, văn hóa
dân tộc, mất độc lập tự chủ, đưa nhân dân dân vào cảnh mất tự do, đói khổ, lầm
than, di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ nhân dân,phân
hóa dân tộc của quốc gia ấy.
Rốt cuộc, cái gọi là “cuộc cách mạng vô sản” để xây dựng “một xã hội không
người bóc lột người” (Từ
xã hội: xã hội chủ nghĩa,còn giai cấp, đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, không còn
giai cấp, không còn nhà nước…) chỉ là chiêu bài lừa mị của một tập đoàn
thống trị độc quyền, độc tôn, độc tài (đảng cộng sản)
để xây dựng “một xã hội người (với thiểu
số cán bộ đảng viên CS) độc quyền áp bức bóc lột người (tuyệt đại đa số
nhân dân)” chưa từng có trong
lịch sử hình thành các xã hội loài người
có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thủy,
xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản…theo duy vật sử quan
Marxism)
2.-Trên
bình diện thực tiễn, những người cộng sản Việt Nam (Việt
cộng) nói riêng, cộng sản quốc tế nói chung, đã tin theo và vận dụng chủ nghĩa cộng sản
vào thực tế nước ta, (cũng như một số nước khác trên thế giới),đã gây
tác hại nghiêm trọng, tòan diện, lâu dài trên con người, dân tộc và đất nước
Việt Nam trong nhiều thập niên qua và di hại lâu dài cho Dân tộc và Đất nước
Việt Nam qua nhiều thế hệ sau này.
Vì
tin và hành động theo “ý thức hệ cộng sản”
Việt cộng đã đánh mất bản
sắc dân tộc, tách rời khỏi lịch sử chính thống quốc gia Việt Nam và dùng “Tính giai cấp” và lăng kính “đấu
tranh giai cấp” để phê phán chủ quan, không trung thực về các
triều đại và các anh hùng hào kiệt của
lịch sử Việt Nam, xuyên tạc lịch sử và chối bỏ Tổ Quốc Việt Nam, để chọn và tôn
thờ cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” là tổ
quốc của mình. Và vì vậy cộng sản Việt Nam
sẵn sàng hy sinh quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc việt nam cho quyền lợi của
đảng Cộng sản Việt Nam
và quốc tế cộng sản.
Vì
chủ trương hận thù và đấu tranh giai cấp Việt cộng đã phá đổ mọi quan hệ xã
hội giữa người với người, đã không ngần ngại thủ tiêu, bắn giết và làm mọi điều
tàn ác với với những người anh em cùng mầu da sắc máu, chung nguồn gốc Việt tộc
với họ,theo phương châm “cứu cánh biện minh cho hành động”.(như đã làm trong giai đoạn Chiến Tranh Quốc
Cộng 1954-1975 điển hình là đã tàn sát, chôn sống hàng ngàn quân dân, cán chính
Việt Nam Cộng Hòa trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và các nơi khác trong
suốt cuộc chiến tranh Quốc- Cộng)
Vì
chủ trương vô thần, chết là hết, nên Việt cộng không sợ hậu quả, đã thẳng
tay đàn áp những người dân hữu thần, dùng mọi thủ đoạn, phương cách dù bất
nhân, tàn bạo nhằm tiêu diệt mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo, vốn là nhu cầu quan
yếu trong đời sống tâm linh của con người, và là một thực thể xã hội góp phần
vào nền đạo đức xã hội nhân bản qua mọi thời đại.
Thực tế là, sau khi nắm được quyền
thống trị toàn đất nước 40 năm qua và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc, đảng
Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, với một đảng duy nhất
nắm quyền thống trị (đảng CSVN) với một nhà nước “Chuyên chính vô sản” (tức độc tài cộng sản) bác đọat quyền tự do, dân chủ và các nhân
quyền cơ bản của nhân dân, thông qua “ một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng cộng sản Việt
Nam”, một công cụ trấn áp nhân dân, duy trì và bảo vệ quyền cai trị
độc tài, độc tôn, độc quyền với những ưu quyền đặc lợi của một giai cấp thống
trị mới, giai
cấp cán bộ đảng viên cộng sản,chia nhau nắm quyền chia lợi ở các
cấp, các ngành trong bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Nghĩa là một giai cấp
thiểu số (khoảng 3 triệu đảng viên CS)
thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam (trên 90 triệu dân)từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở.
Đó là những lý do khái quát, căn bản
trên bình diện lý luận và thực tiễn, khiếnViệt quốc, những người Việt Nam theo
ý thức hệ quốc gia, hay là những người Việt Nam không cộng sản từ quá khứ đến
hiện tại, từ trong nước ra hải ngoại, đã và vẫn đang tiếp tục con đường chống
cộng trường kỳ cho đến ngày toàn thắng.
2.- Việt quốc chống cộng tự
bao giờ và nhằm thành đạt mục đích gì?
Có thể nói, kể từ khi “ý thức
hệ cộng sản” du nhập vào Việt Nam trong những thập niên đầu Thế
Kỷ 20, nhưng rõ rệt là kể từ khi đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện chính thức
trên chính trường Việt Nam,sau khi ông Hồ Chí Minh được huấn luyện và đào tạo
từ lò cộng sản Moscow, nhận chỉ thị của Đệ tam Quốc tế Cộng sản Nga trở về Honkong họp Đại Hội thống nhất ba đảng
Marxist thành lập trước đó (Đông Dương
Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và An Nam Cộng sản đảng) thành
đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vào ngày 3 tháng 2 năm 1930. Và có thể coi công cuộc
chống cộng từ ý thức đến hành động, cũng
khởi đi từ đó, nhằm thành đạt các mục đích chống cộng của từng giai đọan, tiến tới thành
đạt mục tiêu chống cộng tối hậu là đánh bại chủ nghĩa cộng sản trên cả hai bình
diện lý luận và thực tiễn, để xây dựng một chế độ tự do dân chủ đích thực theo
đúng ý nguyện và vì lợi ích của toàn thể quốc dân Việt Nam.
Như vậy, cộng cuộc chống cộng có thể chia làm ba giai đọan, trong phạm vi
một bài nhận định tổng quát chúng tôi
chỉ có thể trình bầy vắn tắt như sau:
1.-
Giai đọan 1:(1930 – 1954)
Đây là giai đọan chống cộng đầu tiên,
diễn ra trong thời kỳ kháng chiến chống ách thống trị của thực dân Pháp giành độc lập, thế hệ cha, ông chúng ta
đã chống cộng nhằm ngăn chặn một hiểm
họa hậu Pháp thuộc: Hiểm họa cộng sản.
Bởi vì trong giai đọan này, lực lượng
được coi là lãnh đạo chống cộng, bao gồm các chính đảng quốc gia (Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Độc Lập,
Việt Nam Cách Mạng Đảng tức Phục Việt, Đại Việt Quốc Xã, Đại Việt Quốc Dân Đảng,
Việt Nam Ái Quốc đảng, Nhân xã đảng. . .) và một số nhà trí thức, thân hào
nhân sĩ yêu nước tiên tiến tiêu biểu như Hùynh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh. . .Họ đã thấy được ý đồ của ông Hồ và Cộng đảng của ông ta chỉ là lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, thông
qua cuộc kháng chiến chống Pháp như một phương tiện, không phải để giành độc
lập cho dân tộc Việt Nam, mà làm nhiệm vụ của cộng sản quốc tế, giành thuộc địa
kiểu mới cho các tân đế quốc đỏ Nga – Tầu, nhuộm đỏ đất nước và nô dịch hóa nhân dân Việt Nam.
Vì thế, mục tiêu chống cộng giai đoan này là làm sao cho quần chúng Việt Nam thấy được
hiểm họa cộng sản, không tin, không theo, không để cho ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam lợi dụng của
cải, xương máu và lòng yêu nước chống ngọai xâm của mọi tầng lớp nhân, để
dùng kháng chiến như phương tiện, không
phải để giành độc lập cho dân tộc, mà giành “Thuộc địa kiểu mới” cho “Tân Đế Quốc Đỏ Nga
–Tầu” thực hiện “Chủ
nghĩa thực dân kiểu mới” của cộng sản quốc tế.
Cuộc phân tranh Quốc – Cộng lúc này diễn ra âm thầm nhưng không kém phần quyết
liệt, giữa một bên là các chính đảng Quốc gia và các thân hào nhân sĩ yêu nước,
bên kia là đảng Cộng sản Việt Nam.
Đôi bên Quốc- Cộng phân tranh nhằm tiêu diệt nhau và thu phục, lôi kéo nhân dân
theo và nhận chịu sự lãnh đạo của mình. Cuộc phân tranh Quốc – Cộng giai đọan
này, lúc đầu chủ yếu diễn ra trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền chính trị,
nhằm lôi kéo quần chúng Việt Nam tin
theo và tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của mình.
Tuy nhiên, vào thời khỏang cuối cuộc
kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), sau khi Nhật bại trận trong Thế Chiến Thứ
II, phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Lúc đó, Cộng Đảng Việt Nam
đứng đầu là Hồ Chí Minh, dù thế yếu so
với các chính đảng quốc gia, song nhờ thủ đọan khôn khéo và tính tổ chức, tinh
thần kỷ luật và tính cách mạng cao của một đảng Marxist-Leninnist, nên đã cướp
thời cơ, giành được chính quyền nhiều nơi trên cả nước. Nhưng vì thực lực và
tình hình thực tế quốc nội cũng như quốc tế lúc đó, chưa cho phép Cộng Đảng lộ
rõ nguyên hình và độc chiếm chính quyền, nên Ông Hồ đã phải thành lập một chính
phủ liên hiệp Quốc-Cộng, sọan thảo và ban hành một bản Hiến Pháp năm 1946 thiết
lập chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (giả hiệu) mang tính “Dân chủ tư sản”, chứ chưa giám
thiết lập “Chế độ chuyên chính vô sản” tức
“độc tài tòan trị cộng sản , ngay cả đảng
Cộng sản lúc đó cũng phải tuyên bố tự giải tán. Mãi sau này, khi nắm được quyền
thống trị nửa nước Miền Bắc, cũng vẫn phải gọi tên đảng CSVN trá hình là “Đảng
Lao Động Việt Nam” chứ chưa dám xưng danh “Đảng
Cộng sản Việt Nam”. Đồng thời cũng vẫn phải giữ bảng hiệu chế độ “Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa” cho đến khi đã thôn
tính được Miền Nam vào 30-4-1975, thống trị cả nước, sau đó mới dám trương bảng
hiệu chế độ “Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.(giả danh giả nghĩa).
Sở dĩ Việt cộng phải trá hình như thế,
là vì thời khỏang những năm đầu sau Thế Chiến II, cộng sản đang bị thế giới coi
là một hiểm họa toàn cầu và tại Việt Nam
quần chúng chưa biết gì nhiều về cộng sản, những người biết thì rất sợ
chủ nghĩa tam vô (vô tổ quốc, vô gia
đình,vô tôn giáo), nên ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam đã phải che đậy bằng
mọi cách và khai thác triệt để lòng yêu nước chống ngọai xâm của tòan dân và
lòng căm thù giai cấp trong một số bộ phận nhân dân (Công nhân với chủ tư bản, Nông dân căm thù địa chủ, cường hào ác bá ở
nông thôn. . .).
Trên thực tế,đôi lúc đã có những cuộc
xung đột võ trang giữa các đảng phái Quốc Gia và Cộng đảng Việt Nam,
gây tổn thất nhân mạng cho cả đôi bên. Riêng Cộng đảng Việt Nam, ngòai các họat động tuyên
truyền, thủ đọan lừa mị tinh vi để lôi kéo quần chúng, họ còn xử dụng các hình
thức khủng bố, thủ tiêu những ai không theo hay chống lại họ. Một số nhà ái
quốc Việt Nam đã bị CSVN thủ tiêu trong giai đọan này như lãnh tụ Đại Việt Quốc
Dân Đảng Trương Tử Anh, hay các nhân sĩ ái quốc như Khái Hưng, Hòang Đạo, Ngô
Đình Khôi và nhiều nhà ái quốc khác theo ý thức hệ quốc gia…
Kết
quả của cuộc phân tranh Quốc - Cộng giai đọan này: Quốc thua, Cộng thắng. Là vì mục
tiêu chống cộng giai đọan này đã không đạt được: không những phe Quốc gia đã
không ngăn chặn được hiểm họa CS trong ý thức quần chúng, và thực tế đã không
lọai được vai trò lãnh đạo kháng chiến của CS, để cho cộng sản lôi kéo
được quần chúng theo họ, thu hút được nhiều thành phần dân chúng vào một tổ
chức kháng chiến do họ dựng lên (Mặt trận Việt Minh)
và nắm quyền chủ đạo kháng chiến trong
thời kỳ chót của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Vì sao Quốc thua
Cộng? (Chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết
trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc- Cộng Tại Việt
Nam)
2.-
Giai đọan 2:(1954 – 1975)
Vì giai đọan 1, phe Quốc gia đã
thất bại trong mục tiêu chống cộng để ngăn chặn hiểm họa Cộng sản từ xa, khi Cộng đảng VN chưa giành được lãnh
thổ để thiết lập một chính quyền “Chuyên Chính Vô
Sản” (Tức độc tài tòan trị
cộng sản), thực hiện chủ nghĩa Cộng sản.
Vì thế cho nên cuộc trường chinh chống
cộng phải tiếp tục chặng đường chống cộng giai đoạn hai (1954 – 1975) trong
khung cảnh một thế chiến lược quốc tế mới hình thành sau Thế Chiến II (Chiến tranh ý thức hệ Cộng sản chủ nghĩa và
Tư bản chủ nghĩa)và trong thực trạng một đất nước chia hai, theo sự áp đặt của các cường quốc cực,
thông qua Hiệp Định Genève 1954: Miền Bắc Cộng Sản, Miền Nam Quốc Gia. (Chiến tranh ý thức hệ: Cộng sản chủ nghĩa và
tư bản chủ nghĩa mang tính toàn cầu hình thành sau Thế Chiến II, diễn ra dưới hai
hình thái Chiến Tranh Lạnh giữa các mước giầu, và chiến tranh nóng nơi một số
nước nghèo có số phận không may như Việt Nam, với Việt quốc ở Miền Nam được tư bản chọn là “Tiền
đồn Thế Giới tự do”và Việt cộng ở Miền Bắc được cộng sản quốc tế
chọn là tên lính xung kích thức hiện “Chiến tranh cách mạng”để nhuộm đỏ toàn cõi Việt
Nam và các quốc gia trong vùng . Đất nước Việt Nam trở thành bãi chiến trường,
nhân dân hai miền như bia đở đạn cho các thế lực khuynh đảo quốc tế tiêu thụ
hết lượng vũ khí đạn dược tồn đọng sau thế chiến II và thử nghiệm thêm các loại
vũ khí mới… ),
Tại Miền Bắc, ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam, sau
khi chiếm được một nửa đất nước, đã xây dựng và củng cố một chế độ độc tài tòan
trị cộng sản, theo mẫu mực của đế quốc Đỏ hàng đầu Liên Sô thời bấy giờ.Tuy
nhiên, để che đây thực chất này, Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam đã dùng lại
danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa” của bản Hiến pháp 1946, ban hành sau khi Nhật bại trận trong Thế Chiến
II (1939-1945), buộc phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Lúc đó ông Hồ và Cộng
đảng Việt Nam nhờ thủ đọan khôn khéo, kỷ thuật vận động quần chúng hữu hiệu,
nên đã nhanh tay chủ động cướp chính quyền bằng sức mạnh của quần chúng, tiến tới
thành lập chính phủ liên hiệp Quốc - Cộng do Hồ Chí Minh đứng đầu và sau đó
hòan tòan bị Cộng đảng Việt Nam khuynh lóat. Và để tiếp tục làm nhiệm vụ quốc
tế, Cộng sản Bắc Việt đã làm nhiệm vụ tên lính xung kích cùa cộng sản quốc tế (Nga-Tầu), phát động cuộc chiến “Nồi
da xáo thịt” nhằm thôn tính nhuộm đỏ Miền Nam, vùng đất tự do, với chính
quyền Quốc Gia trong tư thế chính thống, chính danh, có chính nghĩa, kế tục
quyền lực quốc gia, tiếp nhận độc lập chủ quyền từ tay thực dân Pháp trên một
nửa đất nước ở Miền Nam, kiến tạo một chế độ dân chủ pháp trị (Việt nam Cộng hòa)
đáp ứng đúng ý nguyện của nhân dân Việt Nam.
Trong giai đọan này, cả hai phe Quốc – Cộng
đều có tư thế quốc gia, có lãnh thổ, chính quyền quân đội và nhân dân, hành xử
quyền cai trị đối nội cũng như đối ngọai, với sự trợ giúp của ngọai bang thuộc
hai phe đối đầu: cộng sản và tư bản. Cộng sản Bắc Việt (CSBV), sau năm năm
củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, đã thành lập “Mặt Trận Dân Tộc
Giải Phóng Miền Nam”(12-1960) rồi sau
đó đẻ ra “Chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” (1967)
làm công cụ chính trị phát động và tiến hành chiến tranh xâm lăng Miền
Nam, với sự trợ giúp của Nga –Tầu và các nước trong phe “Xã Hội Chủ Nghĩa” Đông
Âu.
Trong khi đó, tại Miền Nam Việt Nam, chính quyền quốc gia
Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), với sự trợ giúp của Hoa Kỳ và các cường
quốc tư bản, theo đuổi một cuộc chiến
tranh tự vệ, với mục đích ngăn chặn, đẩy lùi và đập tan ý đồ xâm lăng của CSBV,
xây dựng và củng cố chế độ dân chủ, phát triển kinh tế ngày càng vững mạnh, tiến tới thống nhất đất
nước bằng con đường hòa bình, với sự ưu thắng của một Miền Nam dân chủ, giầu
mạnh trên chế độ độc tài tòan trị cộng sản, lạc hậu và nghèo nàn ở Miền Bắc (Như thực tế đã xẩy ra ở nước Đức qua phân và sẽ xẩy ra ở Triều tiên
trong tương lai không xa).
Cuộc
chiến tranh Quốc – Cộng
kéo dài 21 năm (1954-1975), với kết cuộc phe Quốc Gia một lần nữa bị thua cuộc, CSBV đã thôn tính được Miền
Nam, thống trị tòan đất nước bằng một chế độ độc tài tòan trị CS.
Hệ quả là, chế độ dân chủ VNCH cáo
chung, chính quyền VNCH sụp đổ, Quân lực VNCH tan rã, hầu hết sĩ quan và lãnh
đạo chính quyền các cấp VNCH bị CS đầy
ải, hành hạ, xỉ nhục trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Một thiếu số quan
chức chính quyền, quân đội và nhân dân Miền Nam
kịp di tản ra hải ngọai trước ngày 30-4-1975, và vượt biên nhiều năm sau
đó, qui tụ thành những Tổ Chức Cộng Đồng, các đảng phái chính trị và tổ chức
đấu tranh,đoàn thể xã hội, tôn giáo tiếp tục công cuộc chống cộng giai đọan 3
vì tự do dân chủ cho Đất nước.
3/-
Giai đọan 3 ( Từ 1975. . . đến ngày kết thúc)
(Xin trình bầy chi tiết ở phần II)
3.- Động lực chống cộng và
mục tiêu sau cùng phải thành đạt là gì?
Trong cả ba giai đọạn chống cộng nêu
trên, chúng ta, các thế hệ những người Việt Nam
không cộng sản đều có chung động lực là lòng yêu nước, tình yêu thương dân tộc
và trách nhiệm đối với đất nước, tiền đồ Tổ Quốc Việt Nam.
Như vậy, trước sau gì công cuộc chống cộng của chúng
ta đều xuất phát từ lòng yêu nước, chứ không phải vì lòng căm thù, dù qua các giai đọan chống cộng, Việt cộng
đã gây ra quá nhiều thù hận. Nhưng lòng thù hận chỉ là cảm tính, động
lực cá nhân, là hậu quả do cách hành xử của Việt cộng đối với Việt quốc gây ra,
chỉ sau khi khởi sự và trong quá trình phân tranh Quốc- Cộng. Trong khi, mọi
người tham gia công cuộc chống cộng khởi đi từ động lực nguyên thủy là lòng yêu
nước, ngay từ khi Việt cộng chưa gây ra thù hận.
Sự thể này chứng tỏ chúng ta chống
cộng do động lực là lòng yêu nước chứ không phải vì thù hận, chống cộng không
phải để trả thù, mà chống cộng vì mục đích cao cả, để thành đạt mục tiêu tối
hậu: “Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản,dân
chủ hóa đất nước”, tạo tiền đề xây dựng và phát triển toàn diện Đất nước đến
phú cường và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân loại, của
cộng đồng các quốc gia trên thế giới; để mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, với các
nhân quyền,dân quyền được tôn trọng, bảo vệ và hành xử; để mọi người dân Việt
không biệt giai tầng xã hội, sắc tộc, tín ngưỡng có được một đời sống tự do, ấm
no, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của con người.
Vì vậy, mục tiêu tối hậu củaViệt quốc, không phải là tiêu
diệt đến người cộng sản Việt Nam cuối cùng,
mà chỉ làm “phản tỉnh” và lọai trừ
cơ hội cho người cộng sản không thể độc chiếm quyền lực, thực hiện một
chế độ độc tài tòan trị cộng sản trên đất nước Việt Nam ta.
Để sau đó, thay thế bằng một chế độ dân chủ đích thực,
chứ không phải là chế độ độc tài không cộng sản hay bất cứ một chế độ dân chủ
giả hiệu nào.
Nghĩa là Việt Quốc sẽ tiếp tục chống chống cho đến khi nào
thành đạt mục tiêu tối hậu này: Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản,dân
chủ hóa Đất nước, thì cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc - Cộng
tại Việt Nam
mới coi như chấm dứt.
Xin coi tiếp phần “II.-
Việt Quốc đã chống cộng thế nào trong 40 năm qua và hiệu quả ra sao?”
Thiện Ý
II/-VIỆT QUỐC ĐÃ CHỐNG CỘNG
THẾ NÀO TRONG 40 NĂM QUA VÀ HIỆU QUẢ RA SAO?
Như vậy là trong giai đoạn chống cộng cuối
cùng này Việt quốc phải thành đạt trọn vẹn hai yêu cầu theo một trình tự: làm tiêu vong chế độ độc tài toàn trị của
Việt cộng trước, xây dựng chế độ tự do dân chủ sau.
Câu hỏi đặt ra là:
Để thành đạt hai mục tiêu tối hậu trên, Việt Quốc đã làm gì trong 36 năm qua và
hiệu quả thế nào?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi lần lượt
trình bầy:
- Thực tế chống cộng 36 năm qua của Việt quốc.
- Hiệu quả của các hoạt động chống cộng 36 năm qua của Việt quốc..
1.-Thực tế chống cộng 36 năm
qua của Việt quốc.
Như vậy là mục tiêu tối hậu căn bản
của công cuộc chống cộng 36 năm qua là: tiêu diệt chế độ
độc tài toàn trị nhất nguyên cộng sản chủ nghĩa và xây dựng một chế độ dân chủ đa nguyên tư bản chủ nghĩa?
Để thành đại hai mục tiêu chủ yếu, tối
hậu trước sau này, Việt quốc đã chống cộng thế nào trong 36 năm qua?
a)Thực tế chống cộng trong nước:
Trong nước đã hình thành các tổ chức
chống cộng rất sớm, ngay từ những ngày tháng năm đầu sau khi Việt cộng chiếm
được Miền Nam, chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử. Ngoài nước thì hình thành
các tổ chức và tiến hành các hoạt động chống cộng trễ hơn, do phải lo ổn định
cuộc sống trước đã. Nhưng cả trong và ngoài nước, các tổ chức chống cộng lúc
đầu đã gặp nhau ở chủ trương tiêu diệt cộng sản bằng sức mạnh quân sự trong
những ngày tháng năm đầu, và kéo dài khoảng 10 năm (1975-1985).
* Thời khoảng 1975-1985:
Trong nước nhiều tổ chức chống cộng ra đời như một cao trào đầy khí thế.Những tổ chức chống cộng tiêu biểu lần lượt ra đời như
Mặt Trận Phục Quốc, Mặt Trận Liên Bang Đông Dương, Mặt Trận Liên Tôn, Mặt Trận
Quốc Gia Giải Phóng Dân Tộc, Mặt Trận Việt Nam Tự Do, Mặt Trận Nhân Quyền … Tất cả đều do những nhân vật có
tiếng tăm trong quá khứ hay vô danh, dùng bí danh hay mượn tên người nổi danh
dựng cờ khởi nghĩa chống cộng.
Trong
hoàn cảnh hoạt động bí mật, các tổ chức chống cộng thường khó biết được thực
lực, và lãnh tụ thực sự là ai. Các tổ chức đều nuôi sống hoạt động và giữ vững niềm
tin của chiến hữu và niềm hy vọng trong nhân dân chống cộng bằng các tin đồn
đầy lạc quan.Rằng “Mỹ đi,rồi Mỹ trở lại”,
đây chẳng qua chỉ là kế sách gài bẫy của Hoa Kỳ như để thực hiện một nhận định
chung của Bộ Trưởng Quốc Phòng Do Thái Moise Dayang khi đến thăm chiến trường
Việt Nam và Sir Wilson người Anh Cố vấn du kích chiến cho quân đội Hoa Kỳ tham
chiến tại Việt Nam: “Muốn chiến thắng
cộng sản cần cộng sản hóa Việt Nam”.
Vì vậy,những người muốn dấn thân vào con đường chống cộng trong thời
khoảng này cũng nóng lòng tìm đường vào bưng biền, tham gia các tổ chức chống
cộng lập chiến khu, hướng lòng theo những tin đồn về vị Tướng này, Tướng nọ của
quân đội VNCH đã rút quân vào rừng, đang chỉ huy lực lượng tàn quân lập chiến
khu ở nơi này nơi kia để chờ ngày X giờ G quay lai giải phóng toàn cõi đất nước
.
Riêng
người viết lúc đầu cũng có khuynh hướng này, đã bàn với một số anh em thân
thiết,như Ls Lý Quốc Sỉnh, Ls. Trần Tấn Thái, (là hai người thầy chủ văn phòng chúng tôi tập sự luật sư), Gs.
Trần Văn Phổ, Gs. Bùi Việt Quý (hai đồng
nghiệp cùng dạy tại Trường La San Hiền Vương Sài gòn)…rằng nếu ai tìm được
đường giây nào vào bưng biền chống cộng khả tín, thì kêu anh em cùng đi. Chúng
tôi cũng đã có các cuộc tiếp xúc bí mật với người của một cánh quân nói là đang
có mật khu ở vùng Long Khánh…Thế nhưng, Việt cộng đã lợi dụng tình hình mập mờ,
tranh tối tranh sáng này, cùng với sự thiếu kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động
bí mật của các chiến hữu chống cộng, nên an ninh, công an Việt cộng đã dễ dàng
đẻ ra các tổ chức chống cộng giả hoặc gài người vào các tổ chức chống cộng thật
để gài bắt và phá vỡ các tổ chức chống cộng từ trong trứng nước hay sau một
thời gian hoạt động…
Nhưng
cũng có những tổ chức với lãnh tụ người thật việc thật tiêu biểu tiên khởi như
Mặt Trận Phục Quốc với luật sư Nguyễn Khắc Chính, Linh mục Chu Quang Minh khởi
động công cuộc chống cộng rất sớm, chỉ ít tháng sau ngày 30-4-1975 qua vụ Việt
cộng gọi là “phản động Nhà Thờ Vinh Sơn”
trên đường Trần Quốc Toản Sài gòn.( Ls.
Nguyễn Khắc Chính sau đó bị Việt cộng kết án tù chung thân và Lm. Chu Quang
Minh 5 năm tù). Mặt Trận Liên Tôn của Linh mục Nguyễn Văn Vàng thuộc Dòng
Chúa Cứu Thế Việt Nam,Ngài được suy cử là Quốc Trưởng Việt Nam lầm thời(sau bị kết án chung thân đã chết trong tù,
có thời gian chung tù với người viết
(1980) ở buồng giam11, khu F khám Chí
Hòa) và bào đệ Thiếu tá nhẩy dù Nguyễn Văn Viên là Thủ Tướng Chính Phủ Việt
Nam lâm thời, (sau bị kết án tử hình đã
bị xử bắn),với mật khu Phụng Thiên ở vùng Long Khánh làm căn cứ địa để thu
hút chiêu binh tụ nghĩa chống cộng. Mặt Trận Việt Nam Tự Do với Luật sư Vũ Ngọc
Truy (nếu chúng tôi nhớ không lầm); Cao
Trào Nhân Bản của Bs, Nguyễn Đan Quế hay Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam mà người
viết đã tham gia thành lập và hoạt động, với Chủ tịch là Gs. Nguyễn Đình
Phượng,gốc đảng Đại Việt.
Sở dĩ
chúng tôi tham gia việc thành lập và hoạt động trong Mặt Trận Nhân Quyền Việt
Nam vào năm 1977, vì chỉ một năm sau
ngày Việt Nam Cộng Hòa cáo chung, chúng tôi đã kịp nhận thức được chủ trương
dùng bạo lực quân sự chống cộng là lỗi thời, không hữu hiệu và không thực tế,
là húc đầu vào đá. Vì thời kỳ chiến tranh Quốc-Cộng vừa qua, với sự trợ giúp dồi
dào nhiều mặt của Hoa Kỳ và các nước đồng minh,Việt quốc đã thất bại trong việc
dùng sức mạnh quân sự tiêu diệt Việt cộng, dù Việt quốc chiếm ưu thế tuyệt đối
trong tương quan lực lượng quân sự . Nay tình thế đã đổi thay Việt cộng chiếm
ưu thế tuyệt đối trong tương quan lực lượng nên Việt quốc cần chống cộng theo
phương cách khác có hiệu quả,phù hợp với thực lực và biến chuyển của tình hình
quốc tế và quốc nội. Vì thực tế chiến lược toàn cầu của các cường quốc cực đã
thay đổi, cuộc chiến tranh ý thức hệ trên phạm vi toàn cầu đã đi vào thời kỳ
cáo chung, để hình thành một chiến lược toàn cầu mới. Cuộc chiến tranh
Quốc-Cộng tại Việt Nam chấm dứt cũng là do yêu cầu thay đổi của thế chiến lược
quốc tế mới này, nên mới có hiện tượng nghịch lý: Việt quốc là
phe mạnh về quân sự , có chính nghĩa,
nhưng đã phải đóng vai thua bại trước đối phương Việt
cộng, là phe yếu kém về quân sự, mạnh về vận động tuyên truyền thủ đoạn chính
trị dù ngụy nghĩa.
Từ nhận
thức trên,chúng tôi đã khởi thảo cô đọng tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong
Thế Chiến Lược Toàn Cầu Mới của các Cường Quốc Cực” phổ biến hạn chế
trong một số anh em thân tín.( Ra hải
ngoại năm 1992, viết lại với đầy đủ chi tiết hơn,thành tài liệu nghiên cứu lý
luận”Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc
Tế Mới” ấn hành lần đầu 1995 và tái bản 2005. Có thể vào Web Site Câu Lạc
Bộ Luật Khoa Việt Nam:luatkhoavietnam.com
vào muc “Diễn Dàn”, tiểu mục “Tác giả & tác phẩm để đọc và nghe Đài VOA
phỏng vấn tác giả năm 1995).
Đến năm
1977 khi tham gia thành lập và hoạt động trong Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam,
tài liệu nghiên cứu lý luận trên của chúng tôi đã được tổ chức cho phổ biến như
tài liệu học tập nội bộ, để mọi người nhìn thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm” mà kiên
trì đấu tranh .
Trong nhiệm
vụ thuyết trình trước một phiên họp bí mật tại tư gia “Thầy giáo Phượng” thuộc Giáo sứ Bình An Thượng Quận 8 Sài gòn, để chính
thức thành lập Mặt
Trận Nhân Quyền Việt Nam (MTNQVN), với hầu hết là các bậc cha chú,
từng hoạt động trong một số chính đảng quốc gia có truyền thống đấu tranh chống
thực dân Pháp và Việt cộng,chúng tôi đã trình bầy dự thảo về cơ cấu tổ chức,
chính cương và sách lược đấu tranh, bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Việt Nam 1977 của
MTNQVN. Sau khi thảo luận và biểu quyết thông qua, đã hình thành bộ phận lãnh
đạo trung ương, với Chủ tịch MTNQVN là Gs. Nguyễn Đình Phượng, cá nhân tôi được
cử là Ủy Viên Nghiên Huấn…
Chính
cương và sách lược đấu tranh của MTNQVN đã nhận định chiều hướng biến chuyển
của tình hình thế giới và Việt Nam trong thế chiến lược quốc tế mới của các
cường quốc cực,cũng như tương quan lực lượng không cân sức giữa Việt Quốc và Việt cộng, không thể dùng bạo lực quân sự
để thành đạt mục tiêu tối hậu (Tiêu diệt độc tài cộng sản ,
xây dựng tự do dân chủ) trong một thời gian mau chóng được. Vì vậy
cần chuẩn bị cho một cuộc kháng cộng trường kỳ, lấy “nhu thắng cương, nhược thắng cường”,
bằng “vũ khí nhân quyền” là chủ yếu để tấn công Việt cộng . Tấn công Việt cộng trên ba mặt trận chủ
yếu: Chính trị, ngoại giao và truyền thông, theo “thế cài răng lược” bằng cơ cấu tổ chức và nhân sự lãnh đạo các
hoạt động chống cộng từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở trong nước giữa các
cấp “Mặt Trận Nhân
Quyền Việt Nam” với “Đảng Cộng Sản Việt
Nam”. Đồng thời MTNQVN tìm cách liên
kết với các tổ chức chống cộng hải ngoại, thống nhất đấu tranh theo sách lược
chung hữu hiệu, nhằm quy tụ sức mạnh
quần chúng Việt Nam trong cũng như ngoài nước(vốn là lực lượng chống cộng chủ yếu có tính quyết định trong giai đoạn
sau cùng này) và tranh thủ sức hậu
thuẫn quốc tế trên mặt trận ngoại giao, quốc tế vận (vốn là sức mạnh hổ trợ cần yếu không thể thiếu)
Mặc dầu rất cẩn trọng, tổ chức MTNQVN cũng như nhiều tổ chức chống cộng
khác trong thời khoảng này, cũng đã bị công an Việt cộng gài người và phá vỡ do
những sơ hở trong tổ chức và hoạt động, sau gần hai năm hoạt động .(Kẻ thực hiện “gài người” này là Đỗ Hữu Cảnh, bí danh nằm vùng Ba Sơn, sau 1975
là công an phòng “Bảo vệ chính trị” là một đông môn, đồng nghiệp.Chúng tôi sẽ
trình bày chi tiết trong một tài liệu nghiên cứu khác sau này khi có điều kiện
và sức khỏe cho phép).
Có thể
nói sau 10 năm (1975-1985) tận dụng mọi thủ đoạn, mọi phương cách, kỹ thuật đặc
tình, đánh phá các tổ chức và trấn áp các cá nhân chống cộng nhiệt thành tự
phát hay có tổ chức, song vì tổ chức lỏng lẻo, thiếu kinh nghiệm hoạt động bí
mật,tổ chức chưa vững đã tung ra các hoạt động chống cộng nặng tính phô trương…
nênViệt cộng đã thành công trong việc “truy quét phản động”, ổn định được
tình hình an ninh chính trị, từng bước củng cố cơ cấu đảng và chính quyền công
cụ để xây dựng cái gọi là “chế độ cộng hòa xã
hội chủ nghĩa”, độc tài toàn trị sắt máu tại Việt Nam.
* Thời khoảng 1985-1995:
Thời
khoảng 10 năm kế tiếp này (1985-1995), các tổ chức và cá nhân chống cộng trong
nước, nếu tồn tại được đều rút vào bí mật hoàn toàn, không còn có những hoạt
động chống cộng ồn ào, đầy khí thế như thời khoảng 10 năm trước. Ngay cả những
chính đảng quốc gia có truyền thống chống ngoại xâm và chống cộng quyết liệt
như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng…trong thời
khoảng này cũng phải thúc thủ, mai phục chờ thời cơ.
Tuy
nhiên,trong thời khoảng này hai tổ chức chống cộng được quốc tế và nhiều người bắt
đầu biết đến là “Cao Trào Nhân Bản”
của Bs. Nguyễn Đan Quế.(hình thành từ thời khoảng 1975-1985) và “Diễn
Đàn Tự Do” của Gs Đoàn Viết Hoạt. Thực lực của hai tổ chức này không ai
biết rõ ra sao, nhưng đã được quốc tế hậu thuẫn có lẽ vì chủ trương, đường lối đấu tranh cho các
quyền nhân bản: tự do, dân chủ,nhân quyền một cách hòa bình, phù hợp với chiều
hướng chiến lược quốc tế mới:Diệt cộng
chủ yếu không bằng “Mật đắng” (bạo lực quân sự ) mà chủ yếu bằng “Mật ngọt”
( kinh tế thị trường) và sức mạnh của nhân dân (bạo lực quần chúng). Vì vậy, vào thời
khoảng này hai người đứng đầu tổ chức là gs. Đoàn Viết Hoạt và Bs. Nguyễn Đan
Quế dù đang bị Việt cộng bắt cầm tù, song thanh thế đã phát triển ngày một mạnh
mẽ trên trường quốc tế cho đến hôm nay, mặc dầu cũng bị khuynh hướng chống cộng
bảo thủ, cực đoan chống phá, chụp mũ “Hòa giải hòa hợp…” và đặc tình truyền
thông Việt cộng nằm vùng tương kế tựu kế đánh hôi, khai thác triệt để mâu thuẫn
nội bộ này của Việt quốc.
Vì vậy,
có thể nói trong thời khoảng này không
có hoạt động chống cộng nổi bật nào của tổ chức hay cá nhân chống cộng trong
nước đáng ghi nhận. Điều đáng ghi nhận một tổ chức chống cộng tiêu biểu có thực
lực ở hải ngoại là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN)
đã đưa người xâm nhập quốc nội, song đã bị Việt cộng chặn bắt từ biên giới Lào-
Việt, một số bị giết trong đó có thủ lãnh của tổ chức này là Phó Đề Đốc Hoàng
Cơ Minh và một người bạn cùng lớp thời Trung học của chúng tôi là Trịnh Văn Hợi,
một số bị bắt sống thì bị đưa ra tòa kết án nặng nề, tối đa là chung thân hay
tử hình.
Về phía Việt cộng, dù không gặp sự “quấy phá”
đáng kể nào của pheViệt quốc, được yên ổn tiến hành cái gọi là cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa”, song vẫn đã thất
bại hoàn toàn trong mục tiêu xây dựng cái gọi là “chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,dù
đã theo gương Liên- Xô đi vào con đường “Đổi mới” (Kinh tế) từ sau 1986.
*Thời khoảng 1995 – 2011:
Thất bại hoàn toàn trong mục tiêu xây dựng
xã hội chủ nghĩa, Việt cộng đã phải theo gương Liên Xô đi vào con đường “Đổi mới” như Liên Xô,Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa của mình, nhưng chỉ “Đổi Mới”
kinh tế (kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa) mà không “Đổi Mới”
chính trị như Liên Xô (dân chủ đa nguyên
đa đảng) vì sợ mất quyền thống trị độc tôn của Cộng đảng Việt Nam trong một
chế độ độc tài đảng trị.
Thế
nhưng chính sự cố bám víu quyền lực này,sau 10 năm “Đổi Mới” ỳ ạch (1985-1995)
kinh tế vẫn suy sụp, “Đế quốc Mỹ”
cựu thù đã quay lại cho thiết lập quan hệ ngoại giao, giúp vực dậy công cuộc“Đổi mới” của Việt Cộng để có những
bước phát triển “nhẩy vọt”, không
phải “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghĩa Xã Hội” bằng con đường “kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”mà đã và đang “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ
nghĩa tư bản” ,vì con đường “Kinh tế thị trường”
tất yếu phải “định hướng tư bản chủ nghĩa”. Và chính con
đường này đã tạo được những bước phát triển “nhẩy vọt” để Việt Nam có được bộ
mặt phồn vinh (giả tạo) hôm nay (chứ không phải do con đường kinh tế thị trường theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa như Việt cộng ngụy biện).
Thế
nhưng,cũng chính sự “Đổi mới kinh tế” chuyển biến theo chiều hướng
này, đã bào mòn, phá đổ từng bước bản chất con người cộng sản và cơ cấu độc
quyền thống trị của Cộng đảng và nhà nướcViệt cộng, trước một nguy cơ mà Việt
cộng biết nhưng không làm gì được, nguy cơ “Diễn biến hòa bình”. Vì đổi mới kinh tế là cùng
lúc mở cửa cho các trào lưu tư tưởng và lối sống tự do từ các nước dân chủ tư
bản chủ nghĩa ùa vào làm chuyển biến con người (nhân dân giác ngộ dân chủ, vượt qua sợ hãi, cũng như cán bộ đảng viên
CS phản tỉnh ngày càng đông), chuyển biến chính trị,văn hóa, xã hội theo
qui luật “lượng đổi, chất đổi” không
thể cưỡng lại được (như thực tế cuộc sống
con người và xã hội Việt Nam ngày nay…).
Diễn
biến hòa bình ấy đã và đang diễn ra ai cũng thấy, có thể kiểm chứng được qua
thực tế, kể cả Việt cộng cũng biết nhưng chẳng biết làm gì hơn là “Cảnh
giác nội bộ” (về âm mưu diễn biến
hòa bình của các thế lực thù địch) và đối phó với nhân dân bằng chính sách “Đắp đập be bờ” dù thâm tâm biết rằng
chỉ là sự vá víu không thể ngăn được diễn biến đang tiến dần tới “Biên độ tức nước vỡ bờ”.
Vì vậy
trong thời khoảng này (1995-2011) Việt quốc chống cộng trong nước cũng như
ngoài nước đã khai thác triệt để nguy cơ “Diễn biến hòa bình” này để chống cộng qua những
cao trào đấu tranh nở rộ, đều khắp cả nước, từ mọi giai tầng xã hội, với tinh
thần đầy lạc quan tin tưởng ở tương lai về một cơ hội giành chiến thắng sau
cùng của sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho Đất nước.…..
Thật
vậy, như chưa từng có trước đây,nay nhiều cuộc biểu tình của công nhân, nông
dân, dân oan đòi các quyền lợi dân sinh, đòi quyền lợi kinh tế, đòi công bình
xã hội đã nổ ra và ngày một gia tăng số lượng, mức độ lan rộng và cường độ đấu
tranh. Từ biểu tình đòi quyền lợi kinh tế, các quyền lợi dân sinh đến biểu tình
mang tính chính trị,đòi dân chủ đa nguyên; hay các cuộc biểu tình không chống
chính quyền trực tiếp, nhưng gián tiếp qua chống ngoại bang xâm lược, để Việt
cộng phải lộ bộ mặt phản dân hại nước, thừa sai của ngoại bang, bán nước,tự đổ
thêm dầu vào lửa, đẩy “tức nước” đến
gần “biên
độ vỡ bờ” hơn, khi cho đàn áp các cuộc biểu tình yêu nước này.
Mặt
khác, nhiều người dân trong thời khoảng này, thuộc nhiều thành phần, giai cấp
xã hội, đã giám lên tiếng tự phát cách này cách khác phê bình, chỉ trích công
khai có mức độ chính sách sai lầm của nhà nước hay tố cáo những cá nhân cán bộ
đảng viên cộng sản có chức có quyền, tham ô, cường hào, ác bá cướp đoạt đất đai,
tài sản của nhân dân, của các giáo hội (Điều
mà giai đoạn trước chắc chắn bị Việt cộng triệt hạ,đàn áp thẳng tay bằng thủ
tiêu, nhà tù, lao động khổ sai cho đến chết…).
Một số chính đảng và tổ chức đấu tranh hình
thành từ các giai đoạn trước cũng như mới thành lập trong thời khoảng này, đã
tung ra các hoạt động công khai, bán công khai hợp pháp cũng như bất hợp pháp,
liên kết với Việt quốc hải ngoại, đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đòi chế độ đa
nguyên đa đảng, dù Việt Cộng có đàn áp, bỏ tù, nhưng ở mức độ không triệt để,
theo kiểu “mềm nắn, rắn buông”,bắt
bỏ tù, thả rồi bắt… tùy theo áp lực quốc tế có ảnh hưởng ít nhiều.
Một số
tổ chức mới tiêu biểu như Đảng Dân Chủ Việt Nam(công cụ trang trí bộ mặt dân chủ giả hiệu của Cộng đảng Việt Nam trước
đây) nay đã được những cựu đảng viên công sản phản tỉnh (Gs.Hoàng Minh Chính, Gs.Trần Khuê…) phục
hoạt; Khối 8406 tổ chức qui tụ các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước đa số
là các đảng viên cộng sản “phản tỉnh”, rồi
đảng Thăng Tiến ra đời, Liên đảng Lạc Hồng…Tất cả các tổ chức này vẫn đang phát
triển tổ chức trong nước, mở rộng ra hải ngoại, với nhiều hoạt hoạt động đấu
tranh tích cực dưới nhiều hình thức, dù bị nhà cầm quyền Việt cộng không ngừng
trấn áp, song thực tế cũng đã có những bước phải lùi dần về phía dân chủ.(Đây là giai đoạn quá độ từ “thử nghiệm dân
chủ” qua “thực hành dân chủ” để tiến đến nền “Dân chủ đa
nguyên” như chúng tôi đã nhận định
trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc tế
Mới” phát hành lần đầu năm 1995 và tái bản năm 2005)
b) Thực
tế chống cộng ở hải ngoại:
* Thời khoảng 1975-1985:
Trong
thời khoảng này,tại hải ngoại, sau ngày 30-4-1975 hầu hết những người kịp di
tản và sau đó vượt biên bằng mọi phương tiện,là những Việt quốc chống cộng, bao
gồm các nhà lãnh đạo chính trị, quân, cán chính các cấp, các ngành cùng gia
đình và thường dân Việt Nam.
Những năm đầu, do phải lo ổn định cuộc sống,
nên các hoạt động chống cộng có khởi động chậm hơn trong nước. Trong thời
khoảng này, vào 5 năm cuối thập niên 70, chỉ có những hoạt động chống cộng lẻ
tẻ của một số cá nhân hay tập thể trên các phương tiện truyền thông, chưa có
những cuộc hôi thảo hay biểu tình qui mô lớn.Bước qua 5 năm đầu thập niên 80,
các hoạt động chống cộng khởi sắc,các chính đảng quốc gia có trước năm 1975 như
Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng… bắt đầu chỉnh
đốn tổ chức và đi vào các hoạt động chống cộng.
Một vài
tổ chức chống cộng mới hình thành, tiêu biểu tại Hoa Kỳ như Liên Minh Dân Chủ Việt
Nam
(1981)với lãnh tụ là Gs. Nguyễn Ngọc Huy (với
đa số thành viên gốc tân Đại Việt). Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng
Việt Nam (MTQGTNGPVN) với người đứng đầu là Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh. Liên
Minh Quang Phục Việt Nam
của Đại tá Võ Đại Võ Đại Tôn thành lập ở Úc. Tổ chức chống cộng của các ông Lê
Quốc Quân, Mai Văn Hanh thành lập ở Pháp …Tất cả các chính đảng và các tổ chức
chống cộng cũ mới đã có những hoạt động khơi dậy mạnh mẽ tinh thần chống cộng
của Việt quốc hải ngoại thành các cao trào đấu tranh chống cộng ngày một phát
triển sau này.
Riêng
tổ chức MTQGTNGPVN thời gian đầu sau khi thành lập,đã được nhiều người tham gia
và đồng hương hổ trợ tài chánh dồi dào cho các hoạt động chống cộng, vì đáp ứng
đúng yêu cầu cần thiết phải có tổ chức mạnh để tiếp tục chống cộng của Việt quốc
hải ngoại.Nhưng sau này, do những sai lầm trong hàng ngũ lãnh đạo, bất minh
trong xử dụng tài chánh đóng góp của quần chúng hải ngoại, đã làm mất dần sức
hậu thuẫn của các cá nhân cũng như các tổ chức đoàn thể chống cộng Việt quốc ở
hải ngoại.
Trên
thực tế, về mặt tích cực, Mặt trận này đã có những hoạt động chống cộng cụ thể
như lập chiến khu ở biên giới Thái-Lào,huấn luyện đưa người xâm nhập Việt Nam
bằng hai cuộc Đông Tiến I và II .Nhưng đã bị Việt cộng chặn đánh trên đường xâm
nhập, Chủ tịch Mặt Trận là Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh bị tử thương cùng nhiều
chiến hữu khác. Số còn lại thì bị Việt Cộng bắt đem ra xét xử công khai vào
khoảng năm 1982-1983, trong một phiên tòa của cái gọi là “Tòa án Nhân Dân” kéo
dài nhiều ngày tại Trụ Sở Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa trước đây ( Việt cộng đã kết thúc phiên tòa này
bằng những bản án nặng nề từ 5 năm đến chung thân hay tử hình các chiến sĩ của
Mặt Trận).
Về tổ
chức chống cộng được thành lập ở Pháp trong thời khoảng này với người đứng đầu
là Ông Lê Quốc Quân ( chúng tôi không còn
nhớ tên tổ chức) đã đưa các ông Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá và dường như cả
Ông Lê Quốc Quân xâm nhập Việt Nam. Việt cộng đã chặn bắt tại biên giới các
tỉnh Miền Tây Nam Phần Việt Nam
hai ông Mai Văn Hạnh và Trần Văn Bá, còn Ông Lê Quốc Quân thì thoát được do xâm
nhập trễ hay thay đổi kế hoạch vào phút chót thì phải? Việt cộng sau đó đã đem
ra xử và kết án Ông Mai Văn Hạnh chung thân (sau
đó được chính phủ Pháp can thiệp vì là công dân Pháp, cựu viên chức tình báo Pháp nên được trở về Pháp xum họp gia đình
sau ít năm ngồi tù). Còn Ông Trần
Văn Bá,Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, một thanh niên yêu nước
nồng nàn, không có thế ngoại bang nào can thiệp, kể cả Pháp quốc mà Ông mang
quốc tịch, quốc tế làm ngơ thì bị Việt cộng tuyên án tử hình và đem xử bắn
(1985)chỉ vì hành động anh hùng biểu lộ lòng yêu nước của mình.(Việt cộng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước lịch sử dân tộc về những hành vi sát hại những người yêu nước như Trần
Văn Bá, là những người anh hùng con yêu của Tổ Quốc Việt Nam).
* Thời khoảng 1985-1995
Sau 10
năm ổn định cuộc sống, Việt quốc di tản bắt đầu qui tụ thành các tổ chức cộng
đồng, các chính đảng quốc gia cũ bắt đầu phục hoạt hay các chính đảng và tổ
chức đấu tranh chống cộng mới được hình thành, mặc nhiên đóng vai trò của bộ
phận lãnh đạo quần chúng chống cộng. Kể từ đó, các hoạt động chống cộng thường
được khởi phát từ tổ chức Cộng Đồng, hay do một đảng phái chính trị, một tổ chức
đấu tranh độc lập hay kết hợp.
Các
hoạt động chống cộng thường diễn ra sôi nổi dưới các hình thức hội thảo, biểu
tình, ra tuyên ngôn, tuyên cáo, lập kháng thư tố cáo trước công luận tội ác quá
khứ cũng như hiện tại của Việt cộng, mỗi khi có những biến cố trong nước liên
quan đến những vụ bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chính kiến, những hành
vi đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền và các quyền dân chủ, dân sinh của nhà
cầm quyền Việt cộng….
Dường như lúc đầu Việt quốc tại hải
ngoại, cũng như Việt quốc trong nước, cũng có chủ trương giải phóng Việt Nam
bằng bạo lực quân sự kết hợp với bạo lực quần chúng nhân dân trong nước nổi
dậy, nên mới có sự ra đời của một tổ
chức chính trị tiêu biểu là “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam”,
lãnh tụ là Phó Đề Đốc Hải Quân VNCH Hoàng Cơ Minh, với “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (gọi tắt là Đảng Việt Tân) lãnh đạo Mặt Trận theo kiểu “Đảng
Cộng Sản Việt Nam” lãnh đạo “Mặt Trận Việt
Minh” trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp …
Nhưng có lẽ vì chủ trương dùng bạo lực chống
cộng không thích dụng và trái chiếu với “Chiến
Lược Quốc Tế Mới của Các Cường Quốc
Cực”, nên cả hai cuộc Đông Tiến I và Đông Tiến II, đưa người xâm nhập Việt
Nam của Mặt Trận này đã thất bại với lãnh tụ Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và nhiều
chiến hữu khác đã phải hy sinh trên đường xâm nhập và một số khác bị bắt cầm tù
nhiều năm sau đó. Có lẽ lãnh đạo của tổ chức này đã nhìn ra được vấn đến, nên
đã thay đổi sách lược chống cộng vào thời khoảng sau này. Nhưng chính sự thay đổi sách lược này đã đưa đến phân hóa nội bộ tổ
chức giữa hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến. Và cũng có lẽ vì
vậy mà hầu hết các tổ chức chống cộng trong nước có chủ trương dùng bạo lực
tiêu diệt cộng sản đã lần lượt bị phá vỡ và cũng đã thay đổi sách lược trong
thời khoảng sau này, như nhiều người đã biết.
Sau chủ
trương dùng bạo lực quân sự để lật đổ Việt cộng không thức thời và không hiệu
quả, chưa đúng thời cơ, các tổ chức
chống cộng trong cũng như ngoài nước dường như đã thống nhất nhận định: Không
thể dùng bạo lực quân sự để lật đổ Việt cộng (Vì tương quan lực lượng không cân sức, vì không phù hợp với chiều
hướng chiến lược toàn cầu mới…) mà
phải bằng phương cách khác hữu hiệu hơn.
Phương cách khác hữu hiệu hơn đó là
gì? Vẫn chưa có câu trả lời thống
nhất của toàn khối Việt quốc chống cộng trong cũng như ngoài nước. Hệ quả thực
tế đã đưa đến xung khắc trong nội bô Việt quốc giữa hai khuynh hướng chống cộng
bảo thủ và chống cộng cấp tiến.
Khuynh hướng chống cộng bảo thủ chủ trương
vẫn duy trì những phương cách chống cộng như từ 36 năm qua để thành đạt mục
tiêu tối hậu tiêu diệt hoàn toàn Việt cộng, để thiết lập chế độ tự do dân chủ
hoàn toàn không có Việt cộng. Nghĩa là giữa
Việt quốc
và việt cộng
phải một mất (Việt cộng) một còn (Việt quốc).Vì vậy khuynh hướng
này kiên đinh không chấp nhận “Hòa giải
hòa hợp với Việt cộng” và quyết liệt chống lại khuynh hướng chống cộng cấp
tiến bằng mọi cách và mọi giá như thực tế đã và đang tiếp tục xẩy ra nhiều nơi ở
hải ngoại.
Khuynh hướng chống cộng cấp tiến thì chủ
trương duyệt xét lại toàn bộ phương thức chống cộng 36 năm qua, loại bỏ những
phương cách lỗi thời, không hiệu quả hay phản tác dụng, tiếp tục những phương
cách chống cộng còn hợp thời và có hiệu quả. Đồng thời sáng tạo thêm những
phương cách chống cộng phù hợp với biến chuyển tình hình thực tiễn trong nước
và quốc tế để có hiệu quả.
Phương cách sáng tạo của khuynh hướng này
là, trực tiếp đối đầu, đối thoại, đấu tranh trực diện với Việt cộng từ trong
nước ra hải ngoại, trên mọi lãnh vực chủ yếu (chính trị:dân chủ, dân sinh,dân quyền, nhân quyền. Kinh tế: tự do. Xã
hội: công bằng. Đời sống nhân dân: ấm no, hạnh phúc…) để nêu cao chính nghĩa,
thuyết phục,tranh thủ sức hậu thuẫn
của nhân dân trong nước và đồng bào hải ngoại (Nội lực chủ yếu triệt tiêu chế độ độc tài toàn trị Việt cộng) và sức hậu thuẫn quốc tế (là ngoại lực chủ yếu có tác dụng chuyển đổi
chế độ độc tài toàn trị Việt cộng đi vào quỹ đạo chiến lược quc tế mới: Thị
trường tự do hóa và dân chủ hóa toàn cầu).
Thế nhưng sự khác biệt căn bản giữa
hai khuynh hướng chống cộng là: Cấp tiến chấp nhận sự tồn tại của Việt cộng
trong nền dân chủ đa nguyên hình thành sau khi tiêu diệt chế độ độc tài toàn
trị Việt cộng (Như Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu hậu cộng sản). Khuynh hướng bảo thủ thì không. Nghĩa là
một mất, một còn, trong chế độ dân chủ hậu cộng sản, không đa nguyên mà nhất
nguyên quốc gia chủ nghĩa,đảng cộng sản không có chỗ đứng, đảng viên phải từ bỏ
chủ nghĩa cộng sản nếu muốn tồn tại, tham gia vào nền dân chủ nhất nguyên này.
Chính những khác biệt căn bản trên đã
dẫn đến xung khắc nội bộ Việt quốc, trong nước âm thầm không có điều kiện bộc
phát như ở hại ngoại, nên không thấy, mà chỉ thấy xung khắc khốc liệt nội bộ
Việt quốc chống cộng ở hải ngoại với các cuộc xung đột gây bất ổn triền miên
trong các cộng đồng Việt quốc chống cộng hải ngọai,trong thời khoảng này, gia
tăng mức độ và cường độ cho đến hiện nay.
Ai cũng thấy hậu quả tai hại do cách ứng xử
không lành mạnh của hai khuynh hướng này, đã làm phân hóa nội bộ các tổ chức và suy yếu sức mạnh toàn khối Việt
quốc chống cộng.Thế nhưng, thực tế vẫn chưa tìm được sự đồng thuận giữ hai
khuynh hướng chống cộng về phương cách chống cộng để thành đạt mục tiêu chung: diệt độc tài toàn trị cộng sản, xây dựng tự do dân chủ đa
nguyên cho Quê Mẹ Việt Nam.
Vì vậy
trong thời khoảng này, một tổ chức chúng tôi cho là tiêu biểu cho một sách lược
chống cộng thức thời, cấp tiến có viễn kiến ngay từ khi thành lập trong thời
khoảng đầu (1975-1985) nhưng chưa giám bộc lộ, có lẽ vì không muốn bị khuynh
hướng chống cộng bảo thủ còn chiếm số đông tấn công. Đó là
Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
Liên
minh này chủ trương dùng đấu tranh chính trị và ngoại giao, với vũ khí nhân
quyền làm mũi nhọn tấn công Việt cộng.
Chủ trương này đã đưa đến việc Liên Minh
Dân Chủ Việt Nam vận động để hình thành vào nằm 1986 ở hải ngoại một Ủy Ban Quốc Tế
Yểm Trợ Việt Nam Tự do, với các thành viên là các nghị sĩ dân biểu
quốc hội Hoa Kỳ, Canada, quốc hội Châu âu và Úc châu để tìm hậu thuẫn quốc tế
cho công cuộc chống cộng vì tự do dân chủ cho Việt Nam. Năm 1992, LMDCVN thành lập trong nước Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân
Chủ với người đứng đầu là Giáo sư Nguyễn Đình Huy (một đảng viên Tân Đại Việt)
Theo Tuyên ngôn thành lập Phong trào này ngày
16-7-1992 thì: “Cuộc tranh đấu ngày nay giữa người Việt Nam không còn
là cuộc tranh đấu để phân biệt chính với tà nữa. Không còn lý do để nhất định
tiêu diệt lẫn nhau nữa. Cuộc đấu tranh hiện nay là cuộc đấu tranh ôn hòa giữa
cái đúng và cái sai…Nó mang tính chất vừa tranh đấu, vừa hợp tác…”.
Điều đáng lưu ý là , từ một văn
phòng thuộc Hạ viện Quốc hội Hoa Kỳ, Dân biểu Dornan và Gs. Stephen Young đã
nhân danh Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do,công bố sự hiện hữu của Phong
Trào TNDTXDDC trong nước và tuyên bố ủng hộ tổ chức này.
Sự kiện
này tất nhiên đã gặp sự chống đối mạnh mẽ của khuynh hướng chống cộng bảo thủ
và làm phân hóa ngay nội bộ LMDCN. Một nhóm lãnh đạo hàng đầu tách ra thành
Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Kiên Định lập Trường đã tố cáo Phong trào TNDTXDDC như là công cụ của chế độ cộng sản Việt Nam và là
con bài của ngoại bang “phục vụ cho quyền lợi của giới tài phiệt ngoại bang và
Hà nội” (Bạch Thư của Lực Lượng Dân
Quân Yểm Trợ Phục Quốc Việt Nam. Ấn bản hải ngoại 1991, trang 37).
Mặc dầu
LMDCVN do sự kiện này có sự phân hóa, song cả hai cánh ủng hộ PTTNDTXDDC cũng
như chống đối đều khẳng định vẫn trung thành với lập trường quan điểm chống
cộng của Cố Gs. Nguyễn Học Huy (qua đời
năm 1990). Rằng “ Ngày nào đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm độc quyền ưu thế hay chính
trị, ngày nào bộ máy công an cảnh sát của CSVN còn tồn tại, ngày nào CSVN chưa
trả hết các quyền tự do cho nhân dân Việt Nam, ngày đó LMDCVN và cá nhân tôi
vẫn xem họ là thù địch, và dĩ nhiên không thể có sự hợp tác, vì hợp tác với kẻ
thù là phản bội nhân dân VN…” (Trich
Di cảo của Gs Nguyễn Ngọc Huy, lãnh tụ sáng lập LMDCVN).
Trong
khi đó, các thành viên khác của lMDCVN ủng hộ PTTNDTXDDC chấp nhân mọi búa rừu
chống đối, vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống cộng theo phương cách họ
chọn, như muốn dùng thực tế và thời gian
để khẳng định cho lập trường, quan điểm và phương thức chống cộng của mình là
đúng đắn.
* Thời
khoảng 1995-2011:
Trong thời
khoảng này, khởi đi từ sau khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt
cộng, thực hiện một chiến lược quốc tế mới nói chung, với Việt Nam nói
riêng,Việt quốc chống cộng ở hải ngoại cũng như trong nước đều triệt để khai
thác nguy cơ “Diễn
biến hòa bình” đối với Việt cộng.
Và dường như hai khuynh hướng chống cộng
bảo thủ và cấp tiến có chung quan điểm không thể và cũng không có sức mạnh quân
sự đối trọng nào của Việt quốc để “Diệt cộng”, song hai khuynh hướng này vẫn
bất đồng sâu xa về phương thức chống cộng không dùng bạo lực để thắng Việt Cộng
thì dùng những phương cách gì đây.
Chính
sự mâu thuẫn này tiếp tục đưa đến những xung khắc gay gắt đến độ “xung đột,đánh phá lẫn nhau” bằng mọi phương cách, với tính chất,mức độ và
cường độ nhiều lúc người ta có cảm tưởng còn hơn với đối phương Việt cộng, đã
gây bất ổn triền miên trong các cộng đồng có đông Việt quốc tỵ nạn cộng sản,
làm nhiều người chán nản bỏ cuộc vì thấy nội lực Việt quốc trong tương quan với
Việt cộng đã yếu kém hơn, nay lại suy giảm vì nội bộ xâu xé nhau chỉ vì bất
đồng quan điểm, phương thức chống cộng, thì làm sao thắng nổi Việt cộng đây.Đó
là một trong những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng thực tế ngày càng ít
người tham gia các hoạt động chống cộng ở hải ngoại. Một điển hình thể hiện đầy
đủ tính chất và hậu quả của hiện tượng tiêu cực này là, tại Cộng Đồng Người
Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ cận, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, cũng vì bất đồng quan điểm và phương thức
chống cộng giữa hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và chống cộng cấp tiến, đã
gây xung đột, đánh phá lẫn nhau bằng mọi mọi giá, mọi cách,gây bất ổn Cộng Đồng
kéo dài hơn một năm qua vẫn chưa có cơ may chấm dứt.
Dẫu sao về mặt tích cực, những hoạt động
chống cộng của Việt quốc khắp nơi tại hải ngoại trong thời khoảng này vẫn được
đẩy mạnh, liên tục, đều khắp qua các cao trào chống cộng, mỗi khi có sự
kiện, biến cố gì trong nước có thể làm duyên cớ tấn công Việt Cộng.
Việt quốc đã tấn công Việt cộng bằng nhiều
hình thức đa dạng được các thành phần lãnh đạo công cuộc chống cộng ở hải
ngoại triển khai, phát động tiến hành trong các địa bàn căn bản là các Cộng
Đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ nạn cộng sản nơi các quốc gia họ định cư.Mặc nhiên
coi các Tổ Chức Cộng Đồng là thành trì chống cộng, là hậu phương hổ trợ cho
tiền tuyến chống cộng của nhân dân trong nước.
Qua
thực tế, hình thức chống cộng đồng bộ thông thường vẫn như các thời khoảng
trước,tuy có gia tăng mức độ và cường độ đấu tranh, là các cuộc hội họp, hội
thảo, biểu tình, ra tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, vận động hành lang quốc
hội, chính phủ các nước sở tại để tìm hậu thuẫn quốc tế yểm trợ … Những hình thức hoạt động chống cộng này,
Việt quốc muốn bầy tỏ thái độ và tố cáo trước công luận bản xứ hay công luận
quốc tế những chủ trương, chính sách, hành động
sai trái về đối nội cũng như đối ngoại của Việt cộng, gây hậu quả nghiêm
trọng trước mắt cũng như lâu dài đối với nhân dân, dân tộc và đất nước Việt
Nam.
Việt quốc tố cáo trước công luận quốc tế để
tìm sức hậu thuẫn, và chuyển đạt đến các chính phủ dân chủ có ảnh hưởng, Liên
Hiệp Quốc, các tổ chức bảo vệ nhân quyền, các Tòa án quốc tế những vi phạm nhân
quyền và luật pháp quốc tế của Việt cộng, để qua đó yêu cầu can thiệp, có biện
pháp chế tài,trừng phạt, thúc ép Việt cộng phải từ bỏ hay thay đổi chính sách,
đường lối cai trị theo hướng dân chủ đa nguyên, tôn trọng tự do, dân chủ, nhân
quyền…
Về đối nội thường là nhắm vào các hành
động vi phạm các quyền tự do dân chủ, nhân quyền, nhân sinh của nhà cầm quyền
cộng sản Việt Nam,
đối với các cá nhân hay tập thể công dân, các tín đồ, các nhà lãnh đạo các Giáo
hội.
Về đối ngoại nhắm vào các chủ trương,
chính sách và việc làm của đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cấu kết với
ngoại bang phương hại đến quyền lợi trước mắt cũng như lâu dài với đất nước,
dân tộc và Tổ quốc Việt Nam…
Đáng lưu ý, trong giai đoạn này, bên
cạnh những hình thức chống cộng truyền thống 36 năm qua ở hải ngoại, với những
hoạt động “chống
cộng từ xa” nhằm thành đạt hiệu quả gián tiếp qua áp lực quốc tế đối
với Việt cộng, một số chính đảng đã thức thời điều chỉnh sách lược chống cộng
với các hoạt động “chống cộng trực diện” với Việt cộng ngay trong
nước. Các chính đảng này đã phát triển tổ chức,xây dựng cơ sở, kết nạp đảng
viên, tung ra các hoạt động chống cộng hợp pháp, bán hợp pháp hay bất hợp pháp
ngay trong lòng chế độ Việt cộng.Dường như các chính đảng cấp tiến này, qua các
hoạt động thực tiễn đã và đang muốn tham gia vào giai đoạn mà chúng tôi gọi
là “thử nghiệm và thực tập dân chủ”, để tạo thế và lực bước vào sân chơi “dân chủ đa
nguyên” sớm muộn sẽ phải có ở Việt Nam trong tương lai(Như chúng tôi đã nhận định, trình bầy chi
tiết trong tập tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc
Tế Mới” về ba bước đến nền dân chủ đa nguyên: Thử nghiệm dân chủ- Thực tập dân
chủ-Hình thành chế độ dân chủ đa nguyên. Từ trang 335-342, tái bản tại Hoa Kỳ
2005).
Vì tại
sân chơi này, đảng nào mạnh về tổ chức, đưa ra được quốc kế dân sinh thuyết
phục được đa số nhân dân, sẽ thắng bằng lá phiếu của họ. Nhiều đảng viên của
các chính đảng này do các hoạt động đấu tranh trong nước, đã bị Việt cộng đàn
áp, bắt bớ, kết án, cầm tù, song vẫn bị khuynh hướng chống cộng bảo thủ, kết
tội là “Đón gió trở cờ”, là theo con
đường “Hòa giải hòa hợp” với Việt
Cộng, là “Chống cộng cuội”, “chống
cộng nằm vùng”, là “Cánh tay nối dài
của Việt Cộng”,….. dù không đưa ra được những bằng cớ xác thực, khả tín có
tính thuyết phục nào.
Điển
hình Đảng Việt Tân (Lãnh đạo Mặt Trận
QGTNGPVN và các tổ chức ngoại vi như Liên Minh Việt Nam Thư Do,Hội Chuyên Gia,
Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu…) sau khi điều chỉnh lại sách lược chống cộng
theo khuynh hướng cấp tiến, một thành phần thiểu số lãnh đạo hàng đầu có khuynh
hướng bảo thủ đã tách ra, số đông còn lại củng cố lại tổ chức, lãnh đạo các
hoạt động chống cộng công khai tại hải ngoại và trong nước. Mặc dầu bị khuynh
hướng chống cộng bảo thủ chống đối quyết liệt, , chụp mũ, nhục mạ thậm từ, song
Đảng này vẫn tiếp tục chống cộng theo sách lược chống cộng mới có tính cấp tiến
của mình.
Đây là
sự xung khắc tất nhiên do sự khác biệt về quan điểm và phương sách chống cộng
giữa khuynh hướng chống cộng bảo thủ và khuynh hướng chống cộng cấp tiến. Sự
xung khắc này không chỉ diễn ra bên ngoài mà ngay bên trong các chính đảng, đưa
đến sự phân hóa nội bộ một số chính đảng nói riêng, toàn khối Việt quốc chống
cộng nói chung. Dù sự phân hóa này có tai hại, song phải chấp nhận là một thực
tế diễn ra như một quy luật phát triển xã hội, chính thực tế sẽ giải quyết mâu thuẫn này:bảo thủ- cấp tiến chống
cộng:ai đúng ai sai, cách chống cộng nào phù hợp với thực tiễn và có hiệu quả
hơn.
2.-
Hiệu quả các hoạt động chống cộng của Việt quốc 36 năm qua
Nhìn
chung, tất cả các hoạt động chống cộng ở hải ngoại 36 năm qua, dù dưới bất cứ
hình thức, phương cách nào hầu hết đều có hiệu quả (effect, effective,
effectural) ít nhiều, song hiệu quả không cao, không tạo được thành quả sau cùng, chỉ tạo được thành quả nhất thời,vì
bộ phận lãnh đạo chống cộng đa dầu, không hình thành được một tổ chức chống
cộng thống nhất, đoàn kết, vững mạnh và uy tín, có tính hệ thống cơ cấu, với
nhân sự điều hành và lãnh đạo các hoạt dộng chống cộng theo một sách lược
chung. Nghĩa là một cách chống cộng theo kiểu đánh võ tự do, dễ gây hiểu lầm
nội bộ Việt quốc, nhất là dễ bị Việt cộng lũng đoạn, khai thác mâu thuẫn nội bộ
chống phá lẫn nhau …
Đồng
thời cũng vì phân tán tổ chức, thiếu một bộ tham mưu chung lãnh đạo toàn cuộc
chống cộng ở hải ngoại theo một sách lược chống cộng chung, nên không kiểm soát
được nội tình Việt quốc, không nắm được nội tình đối phương, để có được đối
sách hiệu quả theo binh pháp “Biết địch,
biết ta, trăm trận trăm thắng”.
Vì
không biết thực lực của ta, ý đồ của địch, nên mới có những đòn chống cộng
phóng ra không trúng đích, bị đối phương dẫn giắt đến những mục tiêu chống cộng
giả (như võ sĩ giác đấu dùng tấm vải đỏ
cho con bò mộng húc vào để né tránh), nên mới xây ra nghịch cảnh “Quân mình đánh quân ta”. Điển hình là
mục tiêu chống chủ trương“Hòa giải và hòa hợp dân tộc của Việt cộng”. Chúng tôi đã có nhiều bài viết phân tích
trình bầy đây chỉ là động tác giả Việt cộng tung ra để phân hóa nội bộ Việt
quốc. Vì thực tế từ quá khứ đến hiện tại, Việt cộng chỉ dùng “hòa giải và hòa
hợp dân tộc” như một chiêu bài tuyên truyền lừa mị để thành đạt lợi
ích giai đoạn. Như trong giai đoạn chiến tranh Quốc – Cộng (1954-1975), Việt
cộng đã đưa được chiêu bài “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” vào văn bản Hiệp
Định Paris 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, với
cái gọi là “Chính phủ hòa giải và hòa
hợp dân tộc” phải được thành lập. Thế nhưng thực tế, Việt cộng đã chỉ dùng
chiêu bài này để lừa mị nhân dân trong nước và đánh lừa công luận quốc, nhất là
nhân dân Hoa Kỳ, để đạt lợi ích giai đoạn là loại được Mỹ ra khỏi vòng chiến,
để sau đó cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris, trước sự
phủi tay không thương tiếc của Hoa Kỳ và sự quay lưng của mọi bảo đảm quốc tế
cho việc thực thi hiệp định này. Trong giai đoạn hậu chiến tranh Quốc- Cộng
hiện nay cũng thế, Việt cộng lại tung ra chiêu bài “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” không
chính thức, mà chỉ đưa ra một “Nghị Quyết 36” của Cộng Đảng Việt Nam có tính chiêu
hồi Việt quốc đem tài năng, chất xám và tư bản về hợp tác với nhà cầm quyền và
chế độ Việt cộng để cùng làm cái gọi là xây dựng và phát triển đất nước đến
giầu mạnh.Nội dung Nghị Quyết 36 này đã lộ rõ ý đồ Việt cộng “Không muốn hòa giải” mà chỉ muốn Việt
quốc “hòa hợp vô điều kiện” với Việt
cộng.Thế nhưng vẫn có một số cá nhân nhẹ dạ trong hàng ngũ Việt quốc, nhất là
một số người từng lãnh đạo hàng đầu chính quyền chế độ chính thống quốc gia
Việt Nam Cộng Hòa trước đây, công khai trở về vô điều kiện và còn tuyên bố
những điều xúc phạm đến lý tưởng, danh dự tập thể Việt quốc. Điển hình là cựu
Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ. Một hành động không những không
góp được gì cho sự “Hòa giải và hòa hợp dân tộc” theo đúng ý nghĩa
chân chính của cụm từ này và cũng là khát vọng chung của người Việt Nam
chân chính.
Thế
nhưng vẫn có những cá nhân Việt quốc do không biết rõ hay dù có biết rõ Việt
cộng chỉ dùng “Hòa
giải và hòa hợp dân tộc” như một chiêu bài lừa mị, chưa bao giờ và
cũng sẽ không bao giờ chịu hòa giải với Việt quốc, song vẫn dùng cái nón “Hòa
giải và hòa hợp” chụp lên đầu các chiến hữu Việt quốc của mình, mỗi khi có bất
đồng quan điểm, phương thức chống cộng. Thậm chí có kẻ còn dùng cái nón này để
giải quyết những mâu thuẫn, tư thù cá nhân, nhằm khủng bố nhau để thủ thắng.Việc làm tiêu cực này đã
tác hại không nhỏ đến nội lực khối Việt quốc chống cộng ở hải ngoại cũng như
trong nước.(Xin đọc thêm những bài nhận
định, phân tích, trình bầy về vấn đề này tại: thieny-lienhuong.blogspot.com)
Chính
vì vậy mà đã có những hoạt động chống cộng không có hiệu quả, đôi khi còn phản
tác dụng, đưa đến hậu quả bất lợi cho công cuộc chống cộng vì dân chủ cho Quê
Mẹ Việt Nam.
Tuy
nhiên về mặt tích cực, các hoạt động chống cộng của Việt quốc 36 năm qua đã đem
lại những hiệu quả sau đây:
a.- Hiệu quả đối với nội bộ hàng ngũ chống
cộng:
Qua các hoạt động chống cộng dưới mọi hình thức(Hội thảo, biểu tình, truyền thông…) đã củng cố, nuôi dưỡng tinh
thần và ý chí chống cộng kiên định của khối Việt quốc tỵ nạn cộng sản 36 năm
qua.
Qua đó, thành phần lãnh đạo (các cộng đồng,các chính đảng quốc gia,
đoàn thể chính trị…) cũng như quần
chúng tham gia các hình thức chống cộng đã tự khẳng định lập trường, thể
hiện, nuôi dưỡng, nâng cao tinh thần và ý chí chống cộng kiên định với quyết
tâm chống cộng đến cùng cho đến ngày toàn thắng (Thành quả cuối cùng:diệt cộng, dân chủ hóa đất nước).
Đối với những người từng là nạn nhân bị đối
xử hay chứng kiến, hay biết được cách đối xử tàn ác, giã man của Việt cộng
qua tài liêu, sách vở, truyền thông, thì động lực chống cộng của họ nặng tính
căm thù Việt cộng. Vì vậy khi tham gia các hoạt động chống cộng cũng là dịp
giải tỏa phần nào nỗi căm thù đã hằn sâu trong lòng họ.
Thế
nhưng chính lòng thù hận thường dẫn đến thái
độ chống cộng cực đoan nơi một số người trong hàng ngũ chống cộng, đôi
khi dẫn đến các hành động chống cộng phản tác dụng, có hại cho công cuộc chống
cộng chung vì tự do dân chủ cho Đất nước.
Phản tác
dụng, vì trên thực tế, một số người chống cộng ở hải ngọai, đã không nắm vững
mục tiêu và lý tưởng chống cộng, nên đã có các hành động “Chống cộng chỉ vì lòng căm thù,
chống cộng cho vơi niềm uất hận” chứ không phải “Chống cộng để thắng cộng và thắng
cộng để thiết lập một chế độ tự do dân chủ khác chế độ Độc tài tòan trị cộng
sản”.
Hệ quả là đôi khi họ đã trút căm thù
cộng sản lên bất cứ ai có lời nói, hành động thể hiện quan điểm chống
cộng khác mình, bằng những ngôn từ nặng
nề, thiếu văn hóa, xúc phạm nhân phẩm, đời tư cá nhân và quyền tự do của một công dân trong
một đất nước dân chủ vào bậc nhất như Hoa Kỳ và những quốc gia dân chủ
khác trên thế giới mà họ đang sinh sống.
Nhiều người đánh giá: Đây là một hành động
khủng bố tinh thần những người bất đồng chính kiến của thiểu số những người chống cộng cực đoan (theo nghĩa bảo thủ, độc đoán, coi quan điểm
và phương thức chống cộng của mình là duy nhất đúng, tìm cách loại trừ bằng mọi
giá, dù bất nhân vô đạo đối với những người có quan điểm và phương cách chống
cộng khác mình,dù họ biết rõ những người ấy không phải là Việt cộng, nhưng vẫn
truy chụp, đội các mũ “Việt gian, tay sai cộng sản” hay “Hòa giải hòa hợp với
cộng sản”….) .
Tệ
trạng này đã gây nhiều tác hại bất lợi cho công cuôc chống cộng chung mà chúng
tôi đã có nhiều bài viết cảnh báo. Một trong những tác hại thấy được là làm gia
tăng số lượng người chống cộng chán nản, bỏ cuộc, không muốn
chống cộng nữa. Thậm chí có kẻ quay lại
ca ngợi, nể phục cộng sản. Là vì sự thể này đã làm mất niềm tin vào sức mạnh
đòan kết, khả năng những người lãnh đạo tranh đấu chống cộng nơi các Cộng Đồng chống cộng, các chính đảng
quốc gia… để thành đạt chiến thắng cuối cùng, khi mà ngay tại hậu phương
chống cộng ở hải ngọai tính tự do dân chủ đã không được tôn trọng, người chống
cộng “đánh” người chống cộng với cường độ căm thù nhau như căm thù cộng sản, có
khi hơn và luôn sẵn sàng chụp “nón cối, dép dâu”(mà chính Việt cộng đã
vất bỏ từ lâu) lên đầu những người anh em chống cộng khác mình. ( một giả định thực tế: nếu Việt quốc thắng
Việt cộng trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng vừa qua hay toàn thắng trong giai
đoạn chống cộng cuối cùng này, mà chính quyền rơi vào tay những người chống
cộng cực đoan như thế này, số phận của những Việt cộng sẽ ra sao, có đối xử tàn
bạo như Việt cộng đối với Việt quốc hay tệ hại hơn? Phải chăng Việt cộng ngoan
cố bám lấy độc quyền thống trị, một trong những nguyên nhân cũng là vì “sợ bị trả thù” khi chính quyền lọt
vào tay những thành phần Việt quốc chống cộng cực đoan này?)
Nếu
hiện tượng không lành mạnh này tiếp tục tồn tại trong các cộng đồng Người Việt
Quốc Gia tại hải ngọai, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ và thời gian giành
chiến thắng sau cùng của công cuộc chống cộng, dù ai cũng tin rằng chiến thắng
ấy đã là một tất yếu, chỉ sớm hay muộn mà thôi.
b.- Hiệu quả đối với đối phương Việt
cộng.
Các
hoạt động chống cộng dưới mọi hình thức của Việt quốc 36 năm qua đều có hiệu
quả bóc trần mọi điều Việt cộng nuốn che dấu có hại cho họ, để phải lộ nguyên
hình trước nhân dân trong nước và cộng đồng thế giới, một chế độ độc tài toàn
trị, phản dân chủ,giã man, kém văn minh, luôn chà đạp và tước đoạt các quyền
dân chủ, dân sinh, vi phạm nhân quyền, vi phạm luật pháp quốc tế, cấu kết với
ngoại bang buôn dân bán nước, phản lại quyền lợi Đất nước, Dân tộc và Tổ Quốc
Việt Nam…
Chính
những hoạt động chống cộng có hiệu quả này đã gây khó khăn không ít cho Việt
Cộng trên trường quốc tế, ảnh hưởng đến uy tín, các quyền lợi song phương cũng
như đa phương của Việt cộng, tập đoàn lãnh đạo hàng đầu Việt cộng gặp khó khăn
trở ngại khi phải cúi mặt trốn chậy trong những chuyến công du nước ngoài,
trước các cuộc biều tình săn đuổi của Việt quốc chống cộng tỵ nạn cộng sản khắp
nơi…..Tuy nhiên tất cả các hiệu quả này nếu có làm suy yếu chế độ Việt cộng,
thì vẫn chưa lũy đủ sức nặng thừa đủ làm sụp đổ chế độ Việt cộng để có được
thành quả sau cùng. Vì sao? – (Chúng tôi
xin lý giải ở phần sau).
c)- Hiệu quả trên trường quốc tế.
Các
hoạt động chống cộng dưới mọi hình thức của Việt quốc 36 năm qua đều có hiệu
quả thúc đẩy công luận nhân dân,các chính phủ quốc gia dân chủ, Liên Hiệp Quốc,
các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, các cơ quan tài phán quốc tế quan tâm hổ
trợ, gia tăng áp lực và có hành động can thiệp lên nhà cầm quyền Việt cộng theo
chiều hướng có lợi cho mục tiêu tối hậu của công cuộc chống cộng của Việt quốc:tiêu diệt chế độ
độc tài toàn trị cộng sản, thiết lập chế độ dân
chủ đa nguyên cho Quê Mẹ Việt Nam.
Tất nhiên
hiệu quả ít nhiều còn tùy thuộc vào ý chí chủ quan của chính phủ các quốc gia,
các tổ chức quốc tế có ảnh hưởng với Việt cộng, để có cách hành xử, biện pháp
hiệu quả hay không. Cách hành xử hay các
biện pháp chế tài thường được các chính phủ rút ra từ căn bản tính toán lợi ích
thiệt hơn trên các mặt trong mối quan hệ với Việt cộng. Thành ra, Việt quốc
cũng phải lưu ý đến thực chất này để chủ động tính toán trong các hoạt động
chống cộng muốn tìm hiệu quả từ áp lực quốc tế.
III/-
THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG TƯƠNG LAI
Vấn đề
đặt ra là: công cuộc chống cộng 40 năm qua của Việt Quốc đã đem lại thành quả
gì và triển vọng tương lai ra sao?
1.-
Thành quả (Fruits, results)
a)- Ý nghĩa từ
ngữ:Thành quả khác hiệu quả và thành quả của mỗi hoạt động chống cộng khác
thành quả sau cùng của công cuộc chống cộng.
Chẳng
hạn, một cuộc biểu tình chống cộng trước lãnh sự quán Việt cộng tố cáo, lên án
nhà cầm quyền Việt cộng bắt bớ, đàn áp, giam cầm những người bất đồng chính
kiến đấu tranh ôn hòa cho các quyền dân chủ, dân sinh trong nước. Hoạt động chống cộng này có hiệu quả đối
với nội bộ Việt quốc, với đối phương Việt cộng và với công luận quốc tế như
chúng tôi đã phân tích trình bầy ở trên, nhưng có thể không đạt thành quả trực
tiếp là buộc được nhà cầm quyền Việt cộng phải thả các nhà bất đồng chính kiến
bị bắt cầm tù hay chấm dứt đàn áp.
Tuy
nhiên, thành quả này có thể đạt được gián tiếp nếu cuộc biểu tình có kháng thư,
thỉnh nguyện thư gửi đến các chính phủ có ảnh hưởng, như Hoa Kỳ chẳng hạn, tạo
áp lực buộc được nhà cầm quyền Việt cộng phải làm theo những đòi hỏi của cuộc
biểu tình của Việt quốc.(Nếu các chính
phủ có ảnh hưởng,như Hoa Kỳ quan tâm, thực sự can thiệp và áp lực bằng một biện
pháp hữu hiệu). Thế nhưng đây vẫn chỉ
là một thành quả nhất định (hay là
thắng lợi từng bước) của một hoạt
động đấu tranh chống cộng, tich lũy, phát triển theo thời gian để tạo ra thành
quả cuối cùng (Final fruits,final
results) hay là thắng lợi sau cùng của
công cuộc chống cộng (tiêu diệt nhà cầm quyền và chế độ độc tài Việt cộng, thiết lập chế độ
dân chủ đa nguyên).
b)- Như vậy 36 năm chống cộng Việt quốc chưa
tạo được thành quả cuối cùng hay chiến thắng cuối cùng của công cuộc chống
cộng, chỉ tạo thành quả của từng hoạt động chống cộng và đạt một phần thành quả
toàn cuộc hay một phần chiến thắng sau cùng một cách gián tiếp.
Theo ý nghĩa từ ngữ trên, nếu Việt quốc coi thành quả toàn cuộc hay là
thành quả cuối cùng của công cuộc chống là phải thành đạt mục tiêu tối hậu: tiêu diệt nhà cầm
quyền và chế độ độc tài Việt cộng, thiết lập
chế độ dân chủ đa nguyên, thì
các hoạt động chống cộng 36 năm qua của Việt quốc vẫn chưa đạt thành quả tối
hậu này, chỉ có những hiệu quả trong các hoạt động chống cộng nhất định.
Tuy
nhiên, chính những hoạt động chống cộng
có hiệu quả đã tác động gián tiếp qua các lực đẩy, lực xoay quốc tế theo chiều
hướng chiến lược toàn cầu ,tạo áp lực hiệu quả đối với Việt cộng, để đã có được
một phần thành quả tối hậu hay một phần chiến thắng sau cùng của công cuộc
chống cộng.
Một
phần thành quả toàn cuộc chống cộng đó là:nhà
cầm quyền và chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam trên thực tế đã bị “Biến chất cộng sản”
thành “chất tư sản”(đỏ)
dù chưa “chuyển thể độc tài toàn trị” qua
“Dân chủ đa
nguyên”. Một phần thành quả
này đã đạt được một cách gián tiếp qua sách lược chống cộng mới của Hoa Kỳ nói
riêng và các cường quốc cực nói chung (Chiến
lược toàn cầu hóa).
Bởi vì
sách lược mới của Hoa kỳ là “Diệt cộng”
trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường”(sau khi không
thành công hay không muốn thành công với chiến lược “Diệt cộng” trong “Môi
Trường mật đắng” là sức mạnh quân sự qua chiến tranh, trong Chiến Lược Quốc
Tế cũ “Chiến tranh ý thức hệ”
).
Vì rằng
“Mật ngọt chết
ruồi” (theo ý nghĩa tục ngữ dân gian),
trong “Môi
trường mật ngọt kinh tế thị trường”các cán lớn, cán nhỏ đảng viên
cộng sản và cả cái “Chính quyền chuyên chính vô sản” Việt
cộng đã như những con ruồi sa vào hũ mật, cũng “đã biến chất” và “sẽ biến
thể hoàn toàn” ở cuối quá trình tiêu vong.Việt cộng đã và đang bị “Môi trường mật
ngọt kinh tế thị trường”hóa thân tịnh tiến theo đúng quy luật duy
vật biện chứng“Lượng
đổi, chất đổi” (lượng độc tài
tiêu vong, lượng dân chủ lớn dần triệt tiêu độc tài, hình thành dân chủ đa
nguyên, như nước đun sôi dến 100 độ C thì biến thành thể hơi).
Trên
thực tế,ai cũng thấy sách lược chống cộng mới của Hoa Kỳ dường như không còn chủ
trương “ lật đổ để thay thế Việt cộng mà muốn cải tạo Việt cộng thành công cụ
chiến lược mới của mình”.
Hoa Kỳ
không chủ trương “Lật đổ để thay thế”
có lẽ vì thực tế đã không tìm được một lực lượng chống cộng đối trọng nào khả
dĩ có đủ sức mạnh lật đổ và khả năng thay thế Việt cộng, tốt hơn là cải tạo tại chỗ cái chính quyền Việt cộng, biến Việt cộng
thành công cụ chiến lược mới trong vùng của mình. Vì vậy mà ngay khi cuộc
chiến tranh Quốc- Cộng chấm dứt ít lâu, tài liệu giải mật sau này cho biết là
Việt cộng đã để mất cơ hội nắm lấy bàn tay cứu vớt của Hoa Kỳ đưa ra (do đầu óc thiển cận, mang ảo tưởng là kẻ
chiến thắng nên làm cao giá đòi Mỹ bồi thường chiến tranh như điều kiện tiên
quyết…). Phải đợi 20 năm sau (1975-1995) khi Việt cộng thất bại hoàn toàn
cái gọi là công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam,dù cố gắng “Đổi mới” vẫn không cứu vãn được tình
hình, một lần nữa Hoa Kỳ đã đưa bàn tay ra và Việt cộng đã không còn dám bỏ lỡ
cơ hội vội nắm lấy.
Đến nay
16 năm trôi qua (1995-2011) Hoa Kỳ đã tương kế tựu kế đổi “Đối thủ Việt cộng trong môi trường mật đắng chiến tranh trong quá khứ”
thành “Đối tác Việt cộng trong môi
trường mật ngọt kinh tế thị trường trong hiện tại” để tịnh tiến cải tạo,
chuyển đổi “Việt cộng độc tài toàn trị” qua
“Việt Nam Dân
chủ đa nguyên” làm công cụ chiến lược mới của Mỹ trong vùng, theo đúng
yêu cầu của thế chiến lược toàn cầu mới của Mỹ và các cực cường nói chung.
Mỹ đã cải tạo con người về nhân sự lãnh
đạo bộ máy Đảng và Nhà nước Việt cộng bằng sự thay thế dần, với sự đẩy đưa sao
đó để loại trừ thành phần lãnh đạo già
nua, bảo thủ và cực đoan, duy ý chí, ra khỏi guồng máy quyền lực bằng qui chế
65 tuổi phải về hưu chẳng hạn.Những cán bộ đảng viên tại chức tại quyền thì
được cho đi tu nghiệp tại các nước dân chủ tư bản, nhiều nhất vẫn là Hoa Kỳ.
Con cái cán bộ đảng viên và cả dân thường có khả năng tài chánh đều được tự do
du học tại các nước dân chủ tư bản, đông nhất vẫn là Hoa Kỳ. Thực tế ai cũng có
thể suy đoán được kết quả ở cuối quá trình cải tạo con người này là gì.
Việt cộng chắc cũng biết rõ ý đồ này của Mỹ, nên cho
dù “Đảng
ta” miệng có la hoảng, cảnh giác đảng viên về cái gọi là “Âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù nghịch”, thì
thực tế chân vẫn phải chậy theo và bị “diễn biến ấy” lôi đi xềnh xệch
không sao cưỡng lại được. Diễn biến đó
là: cán bộ đảng viên cộng sản đã bị tư sản hóa từng
bước (trở thành tư bản Đỏ), nhà nước được tư bản hóa từng phần (tiến trình giải tư công, nông, thương
nghiệp quốc doanh…), chế độ thì được dân chủ hóa tịnh tiến
(đã phải trả lại cho nhân dân nhiều quyền
dân chủ, dân sinh so với hơn 15 năm trước đây,dù còn ít nhiều hạn chế…). Dẫu
sao, Việt cộng cũng biết rằng đi theo chiều hướng này là tốt nhất,vẫn giữ được
phần nào quyền lợi cho một tập đoàn thống trị sau khi “chế độ
độc tài toàn trị” phải “Biến thể qua dân chủ đa nguyên”. Một chiều hướng không thể đảo ngược và Việt cộng cũng không
có sự lựa chọn con đường nào khác hơn.
Trong
thực tế hiện nay tại Việt Nam, như chúng tôi đã trình bầy nhiều lần, cái gọi
là Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ Cộng
Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã “Biến
chất hoàn toàn” chỉ còn “Đỏ vỏ xanh lòng”.
Nghĩa là những bảng hiệu “Đảng và chế
độ” chỉ là giả mạo vẫn được trưng lên theo kiểu gian thương “Treo đầu dê bán thịt chó” để thêm thời
gian độc quyền thủ lợi của một tập đoàn cố bám giữ thống tri độc quyền mà thôi.
Vì vậy,trong 36 năm qua,theo
nhận định của chúng tôi, tất cả những hoạt động chống cộng nào đi đúng chiều
hướng sách lược “diệt cộng” trên đây của Hoa Kỳ, phù hợp với chiều hướng chiến lược
toàn cầu mới, đều góp phần gián tiếp tạo ra một phần thành quả nêu trên.
Những hoạt động chống cộng nào đi ngược với sách lược này đều là phản tác dụng,
làm chậm tốc độ “Biến chất” và “Chuyển thể” Việt cộng theo chiếu hướng
chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực (thị trường tự do hóa toàn cầu về kinh tế, dân chủ hóa toàn cầu về
chính trị).
Tỷ dụ điển hình: sách lược chống Việt
cộng mới của Hoa Kỳ đi từ bãi bõ cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt
cộng, coi Việt cộng là đối tác không còn là đối phương,chủ trương khuyến khích,
mở rộng, tăng cường đầu tư vào Việt Nam, để gia tăng “nồng độ ngọt”của
môi trường“Mật ngọt kinh tế thị trường” hầu
tăng tốc “diệt
con ruồi Việt cộng” trong môi trường này.
Trong khi đó Việt quốc chủ trương và
đẩy mạnh các hoạt động chống đầu tư vào Việt Nam, là duy ý chí trái với sự phát triển thực tiễn, nên
không có hiệu quả mà còn phản tác dụng.Vì thế trong một số bài viết trước đây,
để có hình tượng của hoạt động trái chiều này, chúng tôi đã dùng cụm từ “Chống cộng theo
kiểu con lạc đà chui đầu xuống bãi cát” (theo nghĩa bất kể mọi biến
chuyển của tình hình thực tế, không điều chỉnh,không cải tiến các hoạt động
chống cộng cho phù hợp để có hiệu quả) hay “Chống cộng theo kiểu đánh phèng la”,
(tương tự như vai trò của đoàn người đánh
phèng la,khua chiêng, gõ mõ khuấy động trong một cuộc đi săn để con mồi hoảng
sợ đi vào tầm bắn của người thợ săn để bị giết).
Vì như trên đã trình bầy, mọi hoạt động dưới mọi hình thức chống cộng
36 năm qua của Việt quốc (Hội thảo,
mít-tinh, biểu tình lên án tố cáo Việt cộng…) thực tế đều chỉ có hiệu quả đẩy đưa Việt cộng vào tầm ngắm của áp lực quốc
tế để bị “giết chết từ từ” (đẩy đưa lùi dần về phía dân chủ…)
Chính vì vậy, một phần thành quả nêu trên (Việt
cộng biến chất), Việt quốc đã chỉ đạt được gián tiếp qua sách lược chống cộng
mới của Hoa Kỳ và quốc tế “Diệt cộng sản hậu
chiến tranh lạnh” (toàn cầu)
hay “Diệt Việt
cộng hậu Chiến tranh Quốc- Cộng” (tại Việt Nam).
c) Vì sao Việt quốc chỉ đạt được hiệu
quả, vẫn chưa đạt thành quả sau cùng?
Bởi vì 36 năm qua Việt quốc đã không
làm thay đôi được cán cân lực lượng để mạnh hơn Việt cộng, dù Việt quốc mỗi
ngày một mạnh hơn, Việt cộng mỗi ngày một suy tàn, nhưng vẫn chưa sụp đổ, vì Việt
cộng biết cách luồn lách thoát hiểm bằng đối sách “Mềm nắn, rắn buông” cố gắng giữ
cho cường độ phản kháng của quần chúng nhân dân ở dưới biên độ “Tức nước vỡ bờ”
và nhượng bộ có mức độ vừa đủ trước áp lực quốc quốc tế.
Vì
rằng, theo binh pháp cổ kim, trong bất cứ cuộc phân tranh hay chiến tranh nào
giữa hai phe, bên nào mạnh sẽ thắng. Việt quốc khởi động giai đoạn chống cộng
hậu chiến tranh Quốc-Cộng ở thế yếu so với đối phương Việt cộng. Muốn thắng Việt
cộng, Việt quốc phải làm sao ngày một mạnh hơn Việt cộng thì mới thắng đượcViệt
cộng, mới giành được thành quả sau cùng.
Thế nhưng thực tế Việt quốc sau 36 năm
chống cộng, dù có phát triển theo chiều hướng ngày một mạnh hơn, song đã không đủ
thế lực mạnh hơn Việt cộng để thắng cộng được, dù Việt cộng ngày một suy yếu mà
không sụp đổ. Vì sao?- Là vì:
-Về mặt tổ chức Việt quốc đã không hình
thành được một tổ chức chống cộng thống
nhất, đối trọng với Cộng đảng Việt Nam, để lãnh đạo toàn diện công cuộc chống
cộng.
- Về sách lược chống cộng, Việt quốc đã
không đưa ra được một sách lược chống cộng toàn diện chung, khả thi,hiệu quả và
có sức thuyết phục quần chúng chống cộng hải ngoại, nhất là nhân dân trong nước:
rằng sách lược
ấy nhất định sẽ tiêu diệt được chế độ độc tài toàn trị cộng sản, và sau đó nhất
định Việt quốc sẽ xây dựng thành công chế độ dân chủ đa nguyên và thực hiện một
quốc kế dân sinh đem lại cho nhân dân một đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc
trong một xã hội công bình hơn những gì thực tế Việt cộng đã làm từ khi nắm
quyền trên một nửa nước (1954-1975) và trên cả nước (1975-1911).
- Về lực lượng chống cộng,không có các lực lượng võ trang như Việt cộng(quân đội, công an…), chỉ có quần chúng ở hải ngoại và nhân dân
trong nước là lực lượng chống cộng chủ yếu của Việt quốc. Nhưng quần chúng
nhân dân vốn ô hợp, muốn huy động được sức mạnh này cần được tổ chức và lãnh
đạo có hệ thống và quy củ, được huấn luyện, truyên truyền học tập để mọi người
tin tưởng, tham gia đóng góp công của vào việc thực hiện sách lược chống cộng
toàn diện chung, khả thi và hữu hiệu.
Thế
nhưng thực tế, 36 năm qua cả ba yêu cầu căn bản tổng quát trên Việt quốc
đã không làm được để có sức mạnh vượt trội, làm thay đổi cán cân lực lượng khả
dĩ tiêu diệt được Việt cộng, chưa nói gì đến việc Việt quốc vẫn chưa đưa ra
được một quốc kế dân sinh ưu việt hơn Việt cộng, khả thi, có tính thuyết phục
được quần chúng hải ngoại và nhân dân trong nước. Thực tế cho đến nay vẫn là:
- Về đối nội:
Đối với Việt cộng, vẫn chiếm ưu thế về tổ
chức, với một đảng cộng sản duy nhất có tính tổ chức và kỷ luật cao, độc
chiếm lãnh đạo chính quyền trong một chế độ độc tài toàn trị, có lực lượng võ
trang quân đội, cảnh sát công an bảo vệ chính quyền độc tài (chuyên chính vô sản) cai trị nhân dân.
Sau một thời gian cai trị lâu dài Việt cộng đã thiết lập và củng cố
được một hệ thống đảng và chính quyền cai
trị bằng chính sách hai mặt: tuyên
truyền lừa mị để thuần phục (Bàn tay
nhung) và kềm kẹp, sắt máu, theo
dõi, kiểm soát từng người dân, trấn áp làm tê liệt sức phản kháng của nhân
dân…(Bàn tay sắt), dù mức độ
thuần hóa không đến nỗi như nhân dân Bắc Triều tiên dưới chế độ độc tài toàn
trì cộng sản Bắc Hàn, sau hơn 60 năm thống trị độc quyền sắt máu của đảng Lao
ĐộngTriều Tiên,đã biến nhân dân Triều tiên thành những “người máy”, khóc cười theo sự bấm nút của “Đảng và nhà nước”, hay những “Con Vật người” suy nghĩ, hành động,
khóc cười theo lệnh của “Lãnh tụ vĩ đại
tối cao” như con chó của thí nghiệp Pavlov : làm theo đúng ý chủ thì được
cho ăn một miếng thịt, làm sai thì bị bỏ đói, trừng phạt roi vọt( Vì thế mới có cảnh nghịch lý làm thế giới
kinh ngạc, nhân dân Triều Tiên khóc Kim Chính Nhật như cha chết, dù ông ta là
một nhà độc tài tàn bạo cha truyền con nối,đứng đầu một tập đoàn thống trị độc tài đã áp bức, bóc lột, tước đoạt các
quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền của họ
hơn 60 năm qua , mà nay còn phải khóc thương, phải tung hô và tỏ lòng
trung thành tuyệt đối với Kim Chính Vân con trai út Kim Chính Nhật, tuổi đời
mới bước qua tuổi trưởng thành, là lãnh tụ vĩ đại, tối cao kế tục sự nghiệp cầm
đầu một tập đoàn thống trị sắt máu tiếp tục độc quyền áp bức bóc lột họ! )
Trong khi đó, Việt quốc ở thế yếu về tổ
chức, về nhân sự lãnh đạo, về lực lượng chống cộng và sách lược chống cộng.
Về
tổ chức, Việt quốc không có được một tổ chức chống cộng thống nhất ở hải
ngoại cũng như trong nước, được hệ thống hóa theo cấp độ từ thượng tầng cấu
trúc đến hạ tầng cơ sở để có thế đấu tranh “cài
răng lược với Việt cộng”.
Về
nhân sự lãnh đạo, Việt quốc không có bộ phận tham mưu lãnh đạo tối cao khả
dĩ đối trọng được với vai trò lãnh đạo duy nhất của Cộng đảng Việt Nam.Mặc dầu
Việt quốc có số lượng đông đảo người tài giỏi về trí tuệ và khả năng lãnh đạo
hơn bộ phận lãnh đạo Việt cộng (Bộ chính
trị va Ban Bí thư Cộng đảng Việt Nam), song vẫn không qui tụ được. Thành ra
có thể nói nôm na Việt quốc chỉ có “khôn lỏi” cá nhân, cái khôn của 1000 chiếc
“Đũa cả” không bó lại được với nhau, so với cái khôn của 100 chiếc đũa con Việt
cộng bó lại được với nhau nên vẫn cứng hơn. Nói cách khác Việt quốc “khôn cá nhân” mà “Dại tập thể”, còn Việt cộng “ngu cá nhân” mà “khôn
tập thể”
Về
sách lược chống cộng, Việt quốc thiếu một sách lược chống cộng chung cho
hải ngoại cũng như trong nước, chống cộng theo kiểu “Đánh võ tự do”, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân hay tập thể lớn nhỏ có
cách chống cộng riêng, nên đôi khi vì lý do này hay lý do khác vừa chống cộng,
vừa chống phá lẫn nhau tự làm suy yếu nội bộ và chống cộng không hiệu quả.
Về
lực lượng chống cộng, Việt quốc không có lực lượng võ trang, chỉ dựa vào
sức mạnh của quần chúng là khối người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại và nhân
dân trong nước. Quần chúng thì ô hợp, muốn vận dụng được sức mạnh quần chúng
cần phải đoàn ngũ hóa và lãnh đạo đấu tranh theo một sách lược chống cộng
chung. Tại hải ngoại cũng như trong nước 36 năm qua, Việt quốc đã chưa làm được
việc này.
Tại hải ngoại, trong bầu không khí tự do, quần chúng tham gia các
hoạt động chống cộng có tính tự phát, nặng về cảm tính (căm thù Việt cộng mà tham gia chống cộng, không quan tâm đến hiệu quả
) nên không bền chí đấu tranh, không đều vì thiếu lãnh đạo,thiếu cơ quan
tuyên truyền có sách lược để lôi kéo quần chúng tham gia, để quần chúng thấy
được, tin tưởng vào sự tất thắng “chính nghĩa quốc gia”, để kiên trì đấu tranh
nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu của công cuộc chống cộng (Diệt cộng, dân chủ hóa đất nước).
Vì hoàn
cảnh cuộc sống, chính nhân sự trong hàng ngũ lãnh đạo các hoạt động chống cộng
ở hải ngoại thuộc các chính đảng hay các tổ chức chống cộng cũng như quần chúng
không thể tham gia toàn toàn tâm, toàn lực và toàn thời gian cho công cuộc
chống cộng được, chỉ chống cộng theo phong trào, sau mỗi hoạt động chống cộng
ai về nhà nấy lo cho cuộc sống cá nhân,gia đình…
Nhân dân trong nước, sau 36 năm bị Việt
cộng cai trị sắt máu, đa số đã an phận chịu đựng dù còn ý thức chống cộng song bị
liệt ý chí, đã không dám có hành động phản kháng dù là tự phát cá nhân trong
nhiều năm dài. Chỉ trong thời khoảng 15 trở lại đây, do tác động của chiến lược
toàn cầu mới, tình hình trong nước biến chuyển theo chiếu hướng “diễn biến hòa
bình” như đã trình bầy ở phần trên,
ý thức phản kháng của nhân dân trong nước mới dần dần phục hồi, khởi phát trong
một bộ phận nhân dân có hoàn cảnh tiếp cận, tiếp thụ những trào lưu tư tưởng
dân chủ tiến bộ, nếp sống văn minh, có được nhận thức tiên tiến, bằng hành động
chống cộng, đi từ tự phát cá nhân đến tự giác có tính tổ chức. Một số đảng
phái, tổ chức đấu tranh mới trong nước đã hình thành. Một vài tổ chức chống
cộng ở hải ngoại cũng đã thức thời phát triển tổ chức và đưa hoạt động vào
trong nước. Nhưng các tổ chức chống cộng trong ngoài này vẫn chưa đủ lực phát
huy sức mạnh của quần chúng tổng nổi dậy lật đổ bạo quyền.
Việt cộng tất nhiên cũng nhình thấy nguy cơ cần ngăn chặn, nên đã phải trấn áp, nhưng không còn triệt để và tàn
bạo như những thời khoảng trước đây, vì thời thế đã đổi thay, chiếu hướng mới
không thể đảo ngược “Độc tài toàn trị cộng sản phải bị tiêu vong từng bước, dân chủ đa nguyên sẽ hình thành ở cuối quá trình tiêu vong
này”. Do đó, mọi nỗ lực trấn áp nhân dân của Việt cộng theo kiểu “Mềm nắn, rắn buông” cũng chỉ là để níu
kéo thêm thời gian độc quyền thống trị cho Cộng đảng Việt Nam mà thôi.
- Về đối ngoại.
Việt
Cộng cũng vẫn chiếm ưu thế hơn Việt quốc.
Đối với Việt cộng, có ưu thế của một
quốc gia, có lãnh thổ, nhân dân và một chính quyền, tuy không chính thống,
không chính đáng, không chính danh và bất hợp pháp đối với quốc dân Việt Nam (Vì không phải là chính quyền của dân, do dân
và vì dân, mà là một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng CSVN), nhưng
về đối ngoại được quốc tế thừa nhận thế
hợp thức, hợp lệ hay hợp cách (regular
government) theo công pháp quốc tế (Vì
hội đủ các yếu tố cấu thành một quốc gia: lãnh thổ, dân cư và chính quyền), nên được coi là một chính quyền chính thức
(official government) của quốc gia
Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, dù không nhất thiết, không thể là một chính
quyền hợp pháp (Legal government) đối với quốc dân Việt Nam.
Đối với Việt quốc, thất thế đối ngoại vì không có những yếu tố mà đối
phương Việt cộng có. Việt quốc lại đã không tạo được ưu thế trên trường quốc tế
bằng chính nghĩa chống cộng của mình, một chính nghĩa phù hợp với chiếu hướng
của thế chiến lược toàn cầu mới: “triệt tiêu các chế
độc độc tài, kinh tế chỉ huy, hình thành chế độ dân chủ, với kinh tế thị
trường tự do”.
Tạo ra ưu thế đội ngoại, chẳng hạn nếu
như ngay từ khởi đầu giai đoạn chống cộng hậu chiến tranh Quốc-Cộng, Việt quốc
tiếp tục duy trì Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa (lưu vong),với Lưỡng Viện Quốc hội, Tối Cao Pháp Viện …trên căn bản
các Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973. Các cơ quan đầu não này sẽ
đặt bản doanh ở quốc gia nào cho phép, như Ấn Độ cho phép Chính phủ Tây Tạn lưu
vong tá túc sau ngày Tầu cộng thôn tính quốc gia Tây Tạng. Nếu không thì các
nhân sự của các cơ quan đầu não này, dựa vào luật pháp quốc gia sở tại thành
lập một tổ chức chống cộng thống nhất, lãnh đạo tối cao công cuộc chống cộng,
với cơ cấu tổ chức và điều hành các ban ngành như chính quyền của một quốc gia,
có ngân sách…để tiến hành công cuộc chống cộng phù hợp với hoàn cảnh thực
tế;hoạch định và lãnh đạo thực hiện các hoạt động chống cộng đồng bộ, đều khắp
theo một một sách lược chống cộng chung,tạo tư thế tranh thủ sức hậu thuẫn quốc
tế trên mặt trận ngoại giao…..
Tựu chung trên thực tế, Việt quốc chống
cộng 36 năm qua vẫn không và vẫn chưa làm được như trên về mặt đối nội cũng như
đối ngoại.Vì vậy đã không làm thay đổi được cán cân lực lượng với Việt
cộng. Mặc dầu hầu hết các hoạt động chống cộng đều có hiệu quả đem lại những
thành quả nhất định, song những hiệu quả và thành quả ấy vẫn chưa “Góp gió thành bão” giật sập chế độ độc
tài toàn trị Việt cộng được.
Nghĩa là, trong quá khứ Việt quốc đã không tạo được sức mạnh và sức
nặng thừa đủ để lãnh đạo nhân dân nhận chìm và làm tiêu vong Việt cộng khi thời
cơ đến. Chẳng hạn vào thời điểm những năm giữa thập niên 80, khi Việt cộng sa
lầy nghiêm trọng vào vũng lầy của những khó khăn chống chất không lối thoát và
lòng dân bất mãn đến tột độ, để sau đó Việt cộng đã tự giải cứu bằng con đường “Đổi mới”.
Nhưng
chính sự “Đổi mới” này cũng đã là
tiền đề làm tiêu vong Việt cộng về mặt bản thể, đã “biến chất” và sẽ “Biến thể” hoàn
toàn ở cuối quá trình tiêu vong. Việt quốc có thể sẽ lại mất cơ hội chủ động
giành thành quả cuối cùng ở cuối quá trình tiêu vong này nếu như vẫn duy trì
nguyên trạng chống cộng như 36 năm qua.
2.- Triển vọng tương lai.
Như thế là sau 36 năm Việt quốc chống
cộng vì tự do dân chủ cho Đất nước vẫn chưa đạt thành quả tối hậu. Vậy triển
vọng tương lai sẽ là gì?
Theo nhận định của chúng tôi, sự nghiệp
chống cộng của Việt quốc có hai triển vọng:
a)- Triển vọng 1:
Nếu
Việt quốc tiếp tục duy trì nguyên trạng chống cộng như 36 năm qua về cơ cấu tổ
chức (phân tán), nhân sự lãnh đạo (đa đầu…) sách lược chống cộng riêng lẻ hay không có
sách lược gì, khuynh hướng chống cộng bảo thủ vẫn đóng vai chủ đạo chống cộng và tìm
cách triệt hạ khuynh hướng chống cộng cấp tiến. Cả hai khuynh hướng chống cộng
này tiếp tục chống phá, tiêu diệt nhau bằng mọi cách, mọi giá và các hoạt động chống cộng vẫn theo kiểu đánh võ tự do, nặng về cảm
tính căm thù hơn là lý tính hiệu quả để thắng cộng…,thì
thành quả tối hậu của sự nghiệp chống cộng vẫn cũng sẽ đạt được, song chỉ thành
đạt sau một thời gian lâu dài hơn(dự đoán từ 10-20 năm), do tốc độ chậm, cường độ tấn công yếu.
Nếu
coi thành quả tối hậu đạt được sau này ấy là một chiến thắng của Việt quốc, thì
thực chất đó chỉ là một “Chiến thắng ăn theo” chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực
(thị trường tự do hóa toàn cầu, dân chủ
hóa toàn cầu) đã tạo ra những lực đẩy, lực xoay bào mòn nội tạng
Việt cộng, phá đổ từng phần, đẩy đưa Việt cộng lùi dân về phía dân chủ và làm
tiêu vong hoàn toàn chế độ độc tài toàn trị Việt cộng, hình thành chế độ dân
chủ đa nguyên ở cuối quá trình tiêu vong này.
Thành quả này ví như “Trái sung Việt
cộng” đến ngày “Chín rụng” chứ
không rơi rụng sớm hơn (do sức rung của
lực lượng chống cộng quá yếu) . Sự chín rụng này xẩy ra cùng lúc hay có thể
trễ hơn so với tuổi đời thế hệ lãnh đạo và tham gia chống cộng hôm nay (thuộc thế hệ một hay một rưỡi), vì đã
qua đi theo qui luật đào thải của thời gian mà không còn cơ hội chứng kiến sự
tiêu vong của đối phương Việt cộng và sự hình thành chế độ dân chủ đa nguyên
cho Đất nước.
b) Triển vọng 2:
Nếu
các khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến của Việt quốc ngồi lại được với
nhau, hay ít ra đường ai nấy đi, không tìm cách loại trừ nhau mà chấp nhận cùng
tồn tại để thành đạt mục tiêu tối hậu chung bằng hai phương cách khác nhau.
Thế nhưng dù hợp nhất hay cùng tồn tại,
cả hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến đều phải duyệt xét, điều
chỉnh lại toàn bộ cơ cấu tổ chức,bộ phận lãnh đạo, lực lượng chống cộng, sách
lược chống cộng một cách phù hợp với chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc
cực, nhất là sách lược “diệt cộng hậu
Chiến tranh Lạnh” (hay là Chiến Tranh
Ý Thức Hệ) của Hoa Kỳ. Trong điều kiện này, thành quả tối hậu của sự nghiệp
chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước của Việt quốc sẽ thành đạt trong một
thời gian ngắn hơn (dự kiến 5 – 10 năm)
và chủ động hơn. Nghĩa là thành quả tối hậu này sẽ là một “Chiến thắng chủ động của Việt quốc”.
Một cách đại cương cần duyệt xét và điều
chỉnh cho phù hợp:
1.
Cơ cấu tổ chức điều hành và bộ phận lãnh
đạo chống cộng:
Thay vào cơ cấu lãnh đạo chống cộng đa đầu
như hiện nay (các Tổ chức Cộng Đồng,
các Chính đảng quốc gia, các tổ chức đấu tranh, các nhóm hay cá nhân thân hào
nhân sĩ…) bằng một cơ cấu tổ chức và
bộ phận lãnh đạo thống nhất: nhất thể nhất đầu (nếu hai khuynh hướng
kết hợp được),hay nhất thể lưỡng đầu
hay nhất thể đa đầu( nếu hai khuynh
hướng chống cộng song song tồn tại) để cùng lãnh đạo toàn cuộc chống cộng ở hải
ngoại và trong nước theo một sách lược chung và riêng một cách phù hợp, có hiệu
quả (không đối chọi, mâu thuẫn, phản
tác dụng).
Cơ cấu tổ chức và bộ phận lãnh đạo chung
này,với đầy đủ các ban ngành như một chính quyền để nắm rõ tình hình “Ta và địch” và nắm bắt kịp thời những
chuyển biến tình hình quốc nội cũng như thế giới . Như vậy mới có những đối
sách chủ động, kịp thời, có hiệu quả trên các mặt đấu tranh chủ yếu: Chính trị (vận dụng và huy động sức mạnh nội lực…), ngoại
giao (quốc tế vận huy động sức mạnh ngoại
lực…) truyền thông, an ninh tình báo,lực lượng vũ trang (để xử dụng khi tình thế đòi hỏi, tỷ như Việt cộng phút chót vẫn ngoan cố bám
quyền như tập đoàn độc tài Kadhafi xứ Lybia đã làm hay Al-Assad xứ Syria đang
làm…)
Hệ thống tổ chức theo cấp bộ từ trung ương
đến các địa phương trong nước cũng như hải ngoại để lãnh đạo quần chúng
chống cộng theo đúng sách lược chung.
Bộ phận lãnh đạo tối cao cũng như các cấp
bộ bao gồm những người tài đức, có tinh thần chấp hành kỷ luật nghiêm túc,
dấn thân quên mình cho sự nghiệp chống cộng, có kiến thức,thành tích và kinh
nghiệm chống cộng do dân cử (ở hải ngoại)hay
suy cử từ các cấp bộ địa phương (trong nước). Những người này cần được huấn
luyện, học tập chủ trương, đường lối, sách lược chống cộng chung, kỹ năng lãnh
đạo, vận động quần chúng đấu tranh trong mọi tình huống, tạo điều kiện hoạt
động toàn thời gian cho cán bộ nòng cốt, đem hết tâm lực phục vụ cộng cuộc
chống cộng theo sách lược chống cộng chung. (Chứ không hoạt động bán thời gian, thích thì làm, không thích hay bất
mãn thì thôi,chống cộng kiểu tài tử, chống cộng theo kiểu đánh võ tự do, ai
muốn chống cộng kiểu nào cũng được,chống cộng theo kiểu phong trào, sau các
hoạt động, lãnh đạo cũng như quần chúng tham gia, ai về nhà nấy, không họp bàn
tổng kết hiệu quả, thành quả , kiển điểm rút kinh nghiệm… như thực trạng chống
cộng bao lâu nay)
2.-
Điều chỉnh Sách lược chống cộng:
Điều
chỉnh (correct, readjust) hay cải
tiến (Improve) khác với thay đổi (change) hay đổi mới (Innovate, innovation), nên điều chỉnh Sách lược chống cộng (Correct the anti-communist tactics) chỉ
cần cải tổ cơ cấu tổ chức, nhân sự điều hành, sách lược chống cộng sao cho phù
hợp với thực tế và có hiệu quả trong các hoạt động chống cộng hiện nay. Nghĩa
là sự điều chỉnh bằng cách duyết xét lại toàn bộ các mặt trên, để giữ lại những
gì còn hữu dụng, loại bỏ những gì lỗi thời,phản tác dụng, thêm vào những cái
mới phù hợp thực tiễn, có hiệu quả.
Sự cải tiến như vậy có tính kế thừa, sẽ kết hợp được cả hai
khuynh hướng chống cộng bảo thủ và cấp tiến, không loại trừ nhau hay tìm cách
loại trừ nhau như quá khứ từng xẩy ra, làm suy yếu thế lực chống cộng, có lợi
cho đối phương Việt cộng.Sự điều
chỉnh này cũng là để thích dụng với biến chuyển của tình hình quốc nội cũng như
quốc tế cho phù hợp và có hiệu quả (Chứ
không thể chống cộng theo kiều “lạc đà
chui đầu xuống bãi cát” không cần biết những thay đổi quốc tế cũng như quốc
nội Việt Nam).
Chẳng
hạn về địa bàn chống cộng cần được
mở rộng và phương thức chống cộng cần phải thay đôi cho phù hợp với biến chuyển
tình hình mới. Ngoài địa bàn cho
các hoạt động chống cộng từ xa ở hải ngoại (hậu
phương), cần đưa các hoạt động chống cộng vào địa bàn trong nước (tiền tuyến). Muốn làm được điều này Việt
quốc cần xây dựng tổ chức, qui tụ, huấn luyện đào tạo nhân sự có tài trí lãnh
đạo quần chúng đấu tranh trong lòng địch theo sách lược chung.
Về
phương thức chống cộng cần tìm cách tiếp cận với đối phương để đấu tranh, bằng đối
đầu, đối thoại công khai tại hải ngoại,cũng như trong nước (bằng thế hợp pháp, bán hợp pháp hay bất hợp pháp) để có cơ hội chủ
động tấn công vào các tử huyệt của đối phương, đánh bại Việt cộng về mặt lý
luận, tiêu diệt từng bước “Chất độc tài”, thuyết phục, lôi kéo quần chúng
về phía “Chính
nghĩa quốc gia”, cô lập Việt cộng, để không còn ai tin vào những
tuyên truyền lừa bịp láo khoét của “ngụy nghĩa Việt cộng”. Đây cũng là bước chuẩn bị
tiền “dân chủ
đa nguyên” sẽ hiện thực vào cuối quá trình tiêu vong của Việt cộng,
để khi hữu sự Việt quốc có thế và lực giành thắng lợi trong các cuộc tranh cử (với cả Việt cộng một khi đã bị buộc phải từ
bỏ độc tài nhất nguyên cộng sản, chấp nhận dân chủ đa nguyên), thực hiện lý
tưởng của mình.
Sự
điều chỉnh phương thức chống cộng này cũng là cách tốt nhất để qui tụ và phát
huy sức mạnh của quần chúng nhân dân,
vốn là chủ lực kết thúc quá trình chuyển thể từ “Độc tài toàn trị” Việt cộng qua “Dân chủ đa nguyên” tại Việt Nam.
Vì dù muốn hay không, Việt quốc cũng
phải chuẩn bị lực lượng đối đầu với Việt cộng trong các trận thư hùng để giành
thắng lợi cuối cùng trên hai trận địa :Đường
phố và nghị trường, trước cũng như sau khi hình thành nền dân chủ đa nguyên tại
Việt Nam.
Bởi vì,căn cứ vào những diễn biến tình
hình thực tế quốc nội cũng như quốc tế trong những tháng năm gần đây, nhiều
người dự kiến Việt Nam có thể “chuyển
thể” từ độc tài nhất nguyên cộng sản qua dân chủ đa nguyên tư bản”
theo một trong những cách sau đây:
1.- Việt cộng tự nguyện, tự giác,chủ động thực
hiện một tiến trình chuyển thể, dưới áp lực ngày một gia tăng của lực lượng quần
chúng nhân dân trong nước và quốc tế.
Kết
thúc tiến trình này có thể gần giống kiểu Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thập niên 80
và đầu thập niên 90 hay theo chiều hướng chế độ độc tài quân phiệt Miến Điện
đang muốn làm khởi sự từ thời gian gần đây (Có
lẽ không muốn chung số phận bi thảm và làm tan hoang đất nước như các tập đoàn
thống trị độc tài ở Bắc và Trung cận đông mới bị lật đổ).
Tuy nhiên sự tự nguyện, tự giác và chủ động
thực hiện chuyển thể không phải là sáng kiến của Việt cộng mà là do áp lực
của nhân dân và quốc tế đến thời điểm buộc Việt cộng phải hành xử như vậy; Và
làm được như vậy cũng là vì quyền lợi thiết thân của chính Cộng đảng Việt Nam,
để hy vọng vẫn được tồn tại trong một thể chế dân chủ đa nguyên tương lai.
Do đó, Việt quốc
vẫn cần sức mạnh quần chúng xuống đường để mau kết thúc tiến trình “chuyển thể”, như các cuộc xuống đường
của nhân dân Liên- Xô, mà lần cuối cùng bao vây quốc hội Nga (Viện Duma) đã
buộc được đảng Cộng sản Liên Xô phải dứt khoát từ bỏ độc quyền thống trị sau
hơn 70 năm (1917-1991) , chấp nhận dân
chủ đa nguyên, vào thời điểm “Cách mạng
chín mùi”, các lực lượng bảo vệ “Nền
chuyên chính vô sản” (tức độc tài
cộng sản) là quân đội, công an phải buông súng, không còn giám bắn giết,
đàn áp nhân dân nữa.
2.-Nếu Việt cộng chọn cách chuyển thể theo kiểu Ai Cập mới đây, vẫn cần sức mạnh quần
chúng nhân dân để kết thúc quá trình chuyển thể. Việt quốc phải làm sao huy
động và lãnh đạo được các cuộc xuống đường của quần chúng nhân dân tạo sức mạnh
đối trọng vượt trội đẩy Việt cộng đến con đường cùng phải đầu hàng, và sau đó
phải nhận chịu sự phán xét công tội trước tòa án công lý.
Nghĩa là tương tự như các cuộc xuống đường đầy khí thế của nhân
dân Ai Cập đã cô lập được tập đoàn độc tài của Tổng thống Murbarack với quân
đội, đi đến kết thúc chế độ độc tài Murbarack sau hơn 30 năm toàn trị.Sau đó, cá
nhân Tổng thống Ai Cập Murbarck và những
bộ hạ thân tín có trách nhiệm trong guồng máy độc tài toàn trị đã phải ra trước Tòa án công lý để nhận chịu những hình phạt
tương xứng với các hành vi tội ác đã làm trong suốt thời gian cầm quyền độc tài.
3.-Nếu
Việt cộng chọn cách chuyển thể theo kiểu Rumani với nhà độc tài Caucescu vào cuối thập niên 80 hay theo kiểu nhà
độc tài Moumur Kadhafi mới đây (2011) và nhà độc tài Al- Assad hiện nay, Việt quốc vẫn cần sức
mạnh quần chúng nhân dân để kết thúc quá trình “chuyển thể”.
Nghĩa là trong mọi hoàn cảnh, Việt
quốc vẫn phải làm sao huy động và lãnh đạo được lực lượng nổi dậy của quần
chúng nhân dân, tạo được thế lực thừa đủ tiêu diệt Việt cộng, một khi đã bị đẩy
đến con đường cùng, mà tập đoàn thống trị Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố không
chịu đầu hàng, tiếp tục chống lại nhân dân đến cùng, các lãnh đạo Việt cộng
hàng đầu có trách nhiệm chấp nhận số phận bi thảm như Caucescu bị treo cổ và
Kadhafi bị thảm sát…
Như
vậy, trong cả ba cách chuyển thể trên, sức mạnh quần chúng nhân dân là lực
lượng quyết định. Thế nhưng nếu muốn huy động được sức mạnh này, quần chúng
nhân dân cần được đoàn ngũ hóa, có tổ chức và lãnh đạo dấu tranh theo một sách
lược chung có hiệu quả. Nhưng để làm được như vậy,điều tiên quyết vẫn là Việt
quốc phải kiện toàn về tổ chức, sách lược chống cộng, như chúng tôi đã trình
bầy ở phần trên để làm thay đổi được cán cân lực lượng với ưu thế sức mạnh
nghiêng về phía Việt quốc.
Ưu thế chỉ có được nếu trên thực tế Việt quốc kết hợp được nội
lực (sức mạnh quấn chúng nhân dân,cô
lập và làm tê liệt các lực lượng bảo vệ chế độ Việt cộng) và ngoại lực (sức mạnh quốc tế) như nhân
dân các nước Tunisia, Ai Cập và Lybia đã làm được.
Bởi vì, thực tế cho thấy,sở dĩ các cuộc cách mạng dân chủ ở một số nước
vùng Trung Cận Đông vừa qua đã thành công, ngoài sức mạnh quần chúng, còn có
sức mạnh quốc tế, từ áp lực chính trị, ngoại giao, kinh tế (đối với các chính quyền độc tài Tunisia,
Ai cập…) đến hành động can thiệp quân sự trực tiếp (Lybia, với các cường
quốc ném bom dưới danh nghĩa thực hiện nghị quyết “Vùng cấm bay”của Liên Hiệp
Quốc để bảo vệ thường dân, thực tế là yểm trợ phe nỗi dậy chống và tiêu diệt
chế độ độc tài Kadhafi). Hiện nay, người ta thấy rõ là vì thiếu sự hổ trợ
ngoại lực (can thiệp trực tiếp cách nào
đó của quốc tế), cuộc cách mạng của nhân dân Syria đã khựng lại vì tương
quan lực lượng không cân sức với chính quyền của nhà độc tài Bashir Al-Assad.Với
ưu thế nắm chính quyền, có quân đội và các lực lượng võ trang trong tay, nhà
độc tài này đã thẳng tay đàn áp giã man các lực lượng quần chúng nhân dân nổi
dậy, hàng ngàn người đã bị giết
trong khoảng 10 tháng qua, bất chấp sự
lên án, áp lực quốc tế chưa đúng mức.(Lại
có sự bất đồng giữa các cường quốc biện pháp ứng xử với chính quyền của nhà độc
tài Al- Assad, như thái độ của Nga và Tầu cộng có khuynh hướng chống lại sự can
thiệp quốc tế do quyền lợi gắn bó với chính quyền này)
Do có chỗ dựa, dường như nhà độc tài Al-Assad
của Syria muốn theo gương nhà độc tài Kadhafi ở Lybia chiến đấu đến khi không
còn bảo vệ được chế độ độc tài toàn trị cha truyền con nối kéo dài hàng thập
niên của mình, với hy vọng “quốc tế sẽ
không dám” can thiệp mạnh bạo như ở
Lybia, nhờ đó có thể thoát hiểm, chủ động chuyển giao quyền lực cách nào đó an
toàn hơn, tránh được số phận bi thảm như nhà độc tài Kadhafi chăng?
Theo những tin tức và dấu hiệu mới
nhất nhận được từ nội bộ Cộng đảng Việt Nam, thực tế dường như những lãnh đạo
hàng đầu đảng và nhà nước Việt cộng đã có phần nao núng trước những biến chuyển
tại các quốc gia Bắc Phi và Trung Cận Đông, nhất là tại Miến Điện, với sự chủ
động khởi sự một tiến trình dân chủ hóa đất nước của tập đoàn dộc tài quân
phiệt nước này. Một trong những dấu hiệu bộc lộ sự nao núng được công luận biết
đến là mới đây, trong diễn văn kết thúc Hội Nghị 4 Trung Ương Cộng đảng Việt
Nam (Khóa 11) , Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã kêu gọi toàn
đảng phải ra sức chỉnh đốn đảng và chế độ hay là chết. Sự thể này cho thấy
“Chỉnh đốn đảng” không có nghĩa là để “Đảng ta” tiếp tục độc quyền thống và
“xây dựng xã hội chủ nghĩa” theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa (Vì thực tế toàn đảng đã ném mục tiêu này
vào sọt rác từ lâu,các cán bộ đảng viên lớn bé đã bị tư sản hóa từ lâu rồi)
Thực tế phải chăng Cộng đảng Việt nam đã
biết “trông người mà nghĩ đến ta”,
đã nghĩ đến việc “cần chỉnh đốn đảng và
nhà nước” sao cho phù hợp tình hình mới, để có thể sống còn trong chiều
hướng mới không thể đảo ngược (mọi hình
thái độ tài phải tiêu vong, dân chủ lên ngôi toàn cầu) ít nhất cũng phải
được một kết cuộc như Liên Xô Tổ quốc Xã
Hội Chủ Nghĩa trước đây của mình, trong đó Cộng đảng Việt Nam vẫn còn có chổ
đứng trong khung cảnh một chế độ dân chủ đa nguyên.
Tựu chung, trong mọi cách chuyển thể trên, cuối cùng đều dẫn
đến nền dân chủ đa nguyên, về nguyên tắc Cộng đảng Việt Nam vẫn có quyền tồn
tại, một khi chấp nhân khung cảnh sinh hoạt dân chủ đa nguyên và thực hành một
Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ đa nguyên.
Trong khung cảnh này,quần chúng nhân
dân vẫn là lực lượng chủ yếu nắm quyền quyết định qua lá phiếu bầu cử tự do. Vì vậy các chính
đảng Việt quốc vẫn cần tranh thủ sức hậu thuẫn của nhân dân để giành chính
quyền, hiện thực lý tưởng tự do dân chủ của mình. Nếu các chính đảng
Việt quốc không đủ mạnh độc lập hay liên kết được với nhau, không thuyết phục,
lãnh đạo, lôi kéo được quần chúng nhân dân ủng hộ, các chính đảng Việt quốc vẫn
có thể thua bại Việt cộng trên nghị trường và Cộng đảng Việt Nam có thể sẽ là
đảng mạnh nhất dù chỉ là thiểu số so với đa số các chính đảng Việt quốc phân
tán cùng tồn tại trong khung cảnh dân chủ đa nguyên..
* KẾT LUẬN:
36 năm qua, Việt quốc với động lực là
lòng yêu nước, đã chống cộng hết lòng vì tự do dân chủ cho Đất nước. Đây là giai đoạn chống cộng cuối cùng để khẳng định chính nghĩa, chân lý thuộc về ai.
Việt quốc không chỉ có niềm tin mà còn được thực tế ngày một khẳng định chính
nghĩa và chân lý ấy thuộc về Việt quốc và sau cùng “Chính nghĩa Việt quốc tất thắng ngụy nghĩa Việt cộng”.
Tuy nhiên “chân lý, chính nghĩa tất thắng” chỉ
là điều kiện cần, nhưng chưa đủ.
Điều kiện đủ là Việt quốc phải làm sao
phát huy được sức mạnh của chân lý,chính nghĩa để huy động được sức mạnh tổng
hợp nội lực (trong nước) và ngoại lực (quốc tế) làm thay đổi cán
cân lực lượng, thừa đủ triệt tiêu chế độ độc tài nhất nguyênViệt cộng, hình thành chế độ dân chủ đa nguyên Việt quốc.
36 năm qua, Việt quốc vẫn chưa thành
đạt được hoàn toàn mục tiêu tối hậu này vì các hoạt động chống cộng chỉ có tác
dụng đem lại những thành quả cục bộ, phân tán nên không làm thay đổi được cán
cân lực lượng mà ưu thế vốn nghiêng về phía Việt cộng.
Nguyên
nhân khách quan là vì Việt quốc đã phải đấu tranh trong một tình thế quốc
nội cũng như quốc tế không thuận lợi như đối phương Việt cộng.
Nguyên
nhân chủ quan là nội bộ Việt quốc đã không đoàn kết thống nhất được về tổ
chức để có một đầu não lãnh đạo chống cộng khả dĩ đối trọng được với Cộng đảng
Việt Nam và cũng không có được một sách lược chống cộng chung phù hợp với biến
chuyển thực tiễn, có hiệu quả để có sức thuyết phục lôi kéo được sức mạnh quần
chúng trong cũng như ngoại nước chủ động tấn công Việt cộng toàn diện, giành
thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi sau cùng.
Thế nhưng, dù chưa có được thành quả toàn cuộc,
song hiệu quả các hoạt động chống cộng 36 năm qua của Việt quốc đã gián tiếp
tạo được một phần thành quả toàn cuộc do phù hợp với chiến lược toàn cầu mới
của các cường quốc cực nói chung,Hoa Kỳ nói riêng.Đó là đảng và chế độ Việt cộng đã “Biến chất hoàn toàn về mặt bản thể” và sẽ “Biến thể hoàn toàn về chế độ chính trị ” ở cuối quá trình tiêu
vong.
Sự tiêu vong chế độ độc tài toàn trị Việt cộng đã là một tất
yếu, vấn đề chỉ còn là thời gian sớm hay muộn mà thôi. Sự hình thành chế độ dân chủ đa nguyên tại Việt Nam sẽ
là một tất thắng của Việt quốc.
Vấn đề chỉ còn là Việt quốc có chủ động giành được sự tất thắng sau
cùng này hay chỉ có được một “chiến thắng ăn theo” do sự đẩy đưa của các lực
đẩy, lực xoay của chiến lược quốc tế mới. Thẩm quyền giải đề này thuộc về những
chính đảng quốc gia,các tổ chức, đoàn thể chống cộng đóng vai trò lãnh đạo công
cuộc chống cộng vì tự do dân chủ cho Đất nước.
Thiện Ý
Houston 25-3-2015
No comments:
Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.